• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 56 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

NGUYỄN TƯ GIẢN


 

 

Nguyễn Tư Giản trước tên là Nguyễn Văn Phú, tự Tuân Thúc, hiệu Vân Lộc và Thạch Nông, sinh năm Nhâm Ngọ (1822). Ông người xã Du Lâm, tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay Mai Lâm thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Tư Giản thông minh từ nhỏ. Năm Quý Mão (1843), ông 22 tuổi, đỗ Hương cống, năm Giáp Thìn (1844), ông đỗ Hoàng giáp khi 23 tuổi.

 Ban đầu ông giữ chức Tu soạn ở Hàn lâm viện sau bổ làm Tri phủ Ninh Thuận. Năm Mậu Thân (1848), Tự Đức nguyên niên, ông được bổ Cấp sự trung, ít lâu sau được bổ làm Thị độc ở viện Tập Hiền rồi sung làm Kinh diên Khởi cư chú. Ông được thăng Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ sung vào Nội các. Năm 1857, sau khi làm bản Điều trần trị thủy, ông được Tự Đức bổ làm Biện lý rồi Hiệp hiệu Đê chính Bắc Kỳ.

Năm 1858 và 1859 quân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà và Gia Định, triều đình chia làm hai phái chủ hòa và chủ chiến. Ông đứng về phái chủ chiến.

Ngày 8/5/1859, quân Pháp tấn công các phòng tuyến trên sông Hương, quân triều đình tan vỡ phải rút vào phòng tuyến thứ 2. Tháng 7/1859, ông đang làm quan Đê chính đã dâng sớ nói không hòa với Tây dương. Sớ đề là "Sớ Đánh Tây”. Song không được Tự Đức và Viện Cơ mật chấp nhận.

Năm 1861, Tự Đức thứ 14, nhân ông xin phép về thăm cha mẹ, tế tổ tiên. Vua dụ ông nhân đó lo xem xét tìm phương cách trị thủy ở riêng Nhị Hà. Quan Đê Chính Nguyễn Tư Giản sau khi đi khám xét đê ở Bắc Kỳ, chủ yếu là đê sông Hồng, ông đã làm một số việc như sau: xây cửa cống, đắp sửa đê... Ông kiến nghị nhiều lần không được. Tháng 2 năm 1862 , Tự Đức ra lệnh bãi bỏ nha Đê chính, chuyển giao công việc trông nom, sửa đê cho quan sở tại. Nguyễn Tư Giản được phong Thị lang bộ Lại.

Cũng năm Nhâm Tuất (1862), Tự Đức 15, thổ phỉ hoành hành ở vùng Đông bắc, ông được giao làm Tham biện, lo việc quân ở Hải - Yên. Có trận ông đánh bại giặc, nhưng để giặc lan tràn không dẹp yên, ông bị cách chức rồi cáo bệnh xin về quê.

Năm Ất Sửu (1865), Tự Đức 18, ông được khởi phục Hàn Lâm viện tu soạn rồi thăng Thị độc tại Tập biên viện, sau đổi qua Hồng lô Tự khanh, làm việc tại bộ Hộ.

Năm Mậu Thìn (1868), Tự Đức thứ 21 ông được thăng Hồng lô Tự khanh ở Quang Lộc tự, lại giữ chức Tả thị lang bộ Lại, sung làm việc ở Nội các. Năm Nhâm Thìn (1872), Tự Đức 25, ông được bổ làm Tham tri, nhưng lĩnh việc của Thượng thư bộ Lại, sung làm phó Tổng tài quốc sử quán, kiêm trông coi Quốc tử giám. Năm sau thăng Thượng thư, sung làm đại thần viện cơ mật.

Mùa đông năm 1872 , đề phòng quân Pháp đánh Bắc Kỳ, ông cùng Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ ngày đêm bàn tính việc cơ mật. Sau đó ông bị giáng chức, phải đi sơn phòng ở Chương Đức khai khẩn đất hoang. Năm Mậu Dần (1878), Tự Đức 31 khôi phục chức Hàn lâm viện Thị độc sung cai quản Hàn lâm viện cho ông.

Hậu quả của việc Tự Đức bãi bỏ chức quan Đê chính trong nhiều năm, đê không được tu sửa, xây cửa cống, cửa cống, cửa sông không được nạo vét. Vì vậy, năm 1862 mưa liên tục, nước không tiêu làm hỏng vụ chiêm. Năm 1865 đê ở các tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ nhiều nơi bị vỡ. Năm 1871, vỡ đê Bắc Ninh, Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Nội, Nam Định, dân chết đói nhiều vô kể. Năm 1872, đê Văn Giang vỡ 20 trượng. Các tỉnh thần đề xuất việc đắp đê, Tự Đức phán: "Hiện nay đương bận việc quân ở vùng biên giới, nên chưa bàn đến trị thủy". Năm 1873 vỡ đê 5 huyện ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Trong các năm 1874, 1875, 1876, 1877 năm nào đê Phi Liệt (Văn Giang, Bắc Ninh) cũng vỡ. Năm 1878, đê Phi Liệt, đê Ân Thi (Hưng Yên) vỡ. Trong các năm 1880, 1881, 1882 đê Phi Liệt vỡ. Năm 1885, các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ hạn hán nặng, các cửa cống lấy nước đều bị phù sa bồi lấp, không lấy được nước vào đồng. Năm 1889 đê sông Đuống (Bắc Ninh) vỡ... Nạn vỡ đê ngập lụt hạn hán, dịch bệnh tàn phá đồng ruộng, xóm làng khiến cư dân vô cùng điêu đứng.

Nguyễn Tư Giản làm quan từ khi còn trẻ, mãi gần 40 năm giữ những chức vụ trọng yếu. Mỗi khi triều đình cần bàn luận những vấn đề khó khăn đều cần có ông. Ông chẳng những là một trọng thần của triều Nguyễn, là nhà chính trị, ngoại giao, nhà trị thủy, nhà sử học, địa lý học, mà còn là nhà văn, nhà thơ xuất sắc. ông còn có nhiều tác phẩm có giá trị để lại đến nay là:

- Thạch nông chi văn

- Văn Diễm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả

- Yên Thiều Thi văn tập

- Thạch nông thi văn

- Như Thanh Nhật ký

- Tiểu thuyết sơn phòng tập

- Trung Châu Quỳnh Dao tập

- Tiểu thuyết sơn phòng cổ lục.

Nguyễn Tư Giản mất năm (1890) hưởng thọ 67 tuổi.



VŨ DUY THANH



Vũ Duy Thanh sinh giờ Tý ngày 9 tháng 8 năm Đinh Mùi, Gia Long 6 (1807). Ông quê ở làng Kim Bồng, tên Nôm gọi là làng Bồng, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Ông là người thông minh từ nhỏ, sách chỉ đọc một lần là nhớ. Năm 14 tuổi đã thông làu kinh sách, xuất khẩu thành thơ. Nhưng số ông lận đận trên con đường khoa cử, năm 35 tuổi mới đỗ tú tài Thi Hội mấy lần đều hỏng. Mãi đến năm Tự Đức thứ 4 (1852), Tự Đức mở chế khoa, ông đỗ đầu, nhưng triều đình không lấy Trạng nguyên nên ông chỉ đỗ Bảng nhãn. Song nhân dân yêu mến vẫn gọi là Trạng Bồng.

Ông được bổ nhiệm làm Tế tửu Quốc tử giám.

Vũ Duy Thanh chỉ là quan Tế tửu Quốc tử giám không có trách nhiệm gì về đê điều, về đời sống của nhân dân, về an ninh của đất nước, nhưng với lòng yêu nước, thương dân cháy bỏng đứng trước thảm cảnh từ năm 1851 đến năm 1855 , Thanh Hóa và Bắc Kỳ bị vỡ đê liên tiếp, ông đã dâng biểu xin vua phát 10.000 hộc thóc trong kho dự trữ để bán, và cho dân Thanh Hóa, Bắc Kỳ vay.

Vũ Duy Thanh trong công việc thì ngay thẳng, công minh và thanh liêm. Nhưng đối với đồng sự và mọi người, ông cư xử rất giản dị, vui vẻ.

Tháng 9/1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công vào bán đảo Sơn Trà ông cảm khái nói: “Tương lai, sự thể chỉ có tranh (luận) về hòa với chiến”.

Đồng thời ông dâng sớ đề nghị triều đình tăng cường lực lượng quốc phòng và cải cách nội trị, cụ thể là tổ chức lại việc học, chỉnh đốn việc phòng bị hải phận và khuyếch trương nền kinh tế trong nước.

Vũ Duy Thanh còn đề nghị Triều đình phải cử người đi học sản xuất vũ khí, đóng tầu biển của phương Tây, phải mua vũ khí của phương Tây trang bị cho quân đội. Ông còn dùng tiền riêng của mình để đóng tầu chiến kiểu “Thủy chiến hỏa công”. Ông cũng là người đề nghị tổ chức khai thác than đá ở Đông Triều, Hòn Gai và nhiều cải cách về việc học, về nội thương, ngoại thương.

Song những kiến nghị của ông bị Tự Đức xếp lại, không thảo luận, không thực hiện. Trước cảnh nước mất nhà tan, Vũ Duy Thanh đau buồn lâm bệnh nặng. Trước khi chết ông còn gửi lên vua Tự Đức bảy phương sách cứu nước. Đến nay bản điều trần này đã bị thất lạc.

Vũ Duy Thanh sáng tác nhiều thơ ca, trong đó có những bài như:



TIỄN NGUYỄN TRI PHƯƠNG



Non nước vì đâu đến nỗi này?

Đủ tài kinh tế dễ ai hay

Bắc Nam phận cả không từ chối,

Sương tuyết lòng xưa chẳng đổi thay,

Một ngọn cờ đào dong thẳng nẻo ,

Chín lần gươm báu đã trao tay

Sóng kình mong mỏi đều im lặng

Tiệc rượu hoàn quân ắt có ngay.


(Theo thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, NXB Văn học).


Khi các sĩ phu Nam Kỳ cùng nhân dân đánh Pháp, Vũ Duy Thanh làm bài thơ “Gửi sĩ phu Nam Kỳ” để khích lệ, biểu dương các sĩ phu Nam Kỳ.

 

GỬI SĨ PHU NAM KỲ

Nam Bắc đâu đâu cũng một trời,

Tấc lòng, tấc đất hỡi ai ơi!

Trăm năm công đức nên ghi dạ,

Một gánh cương thường phải ghé vai,

Sự thế ngán thay cơn gió bụi,

Anh hùng bao quản bước chông gai

Hoài nam khúc cũ ai còn nhớ

Còn nhớ cùng nhau hóa mấy bài.


(Theo Tài liệu của Đào Trình Nhất trong báo
Trung Bắc Chủ nhật số 227 ngày 5/11/1944).

Hiện nay Vũ Duy Thanh còn lại một số tập thơ văn như "Bổng Châu thi văn tập", "Bổng Châu Vũ tiên sinh thi văn".

Ông mất năm Quý Hợi (1863).



 NGUYỄN ĐĂNG HÀNH


Nguyễn Đăng Hành sinh năm Quý Mùi (1823) quê ở xã Phù Khánh, huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, nay là thôn Phù Khánh, xã Hương Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông thi đỗ Hương cống khoa Quý Mão (1843). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, ân khoa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức 1 (1848) năm ông 26 tuổi.

Ban đầu ông được bổ chức Biên tu ở Tập hiền viện, thăng Thị độc án sát tỉnh Quảng Ngãi.

Năm Tự Đức thứ 14 (1861) thăng Hồng lô Tự khanh, lĩnh chức Bố chính Khánh Hòa. Năm Tự Đức thứ 15 (1862) sung chức Thương biện quân vụ Nam đạo chuyển sang Bắc đạo.

Từ đầu năm 1862, đất nước cực kì rối ren, tháng giêng, quân Pháp đánh tỉnh thành Bà Rịa; tháng 3 chúng chiếm tỉnh thành Vĩnh Long. Đến tháng 5, Bôna sai trung tá Ximông (Simon) đem chiến thuyền ra cửa biển Thuận An uy hiếp triều đình Huế đòi phải vào Sài Gòn kí Hiệp ước giảng hòa. Triều đình Huế nhu nhược, tháng 6 năm 1862 sai Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn kí Hòa ước "Hòa bình và hữu nghị”, với Pháp và Tây Ban Nha và phải bồi thường chiến phí cho Pháp. Trong khi đó thì ở miền Bắc, Triều đình Huế bãi bỏ nha Đê chính trông coi việc đê điều. Kết quả là ngay năm đó, nhiều đoạn đê ở Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Yên vỡ.

Do dân đói khổ và bất mãn với triều đình Huế, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ. Nạn giặc Tàu Ô, giặc biển, thổ phỉ từ Trung Hoa tràn sang cướp phá các tỉnh ven biển và châu thổ sông Hồng. Đến tháng 9 thì hầu hết các tỉnh miền Bắc đều có loạn, triều đình phải cử Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Tuyển bình định miền Tây bắc, Trương Quốc Dụng bình định miền Hải Yên (Hải Dương - Quảng Yên) Nguyễn Đăng Hành bình định Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang ngày nay). Vừa nhận lệnh Nguyễn Đăng Hành lập tức lên đường cùng quan quân ở Bắc Ninh tiễn trừ giặc cướp. Cả một vùng phía đông giáp Quảng Yên và phía Nam giáp Hải Dương, Hưng Yên sạch bóng giặc. Khi ông tiến lên tiễu trừ giặc cướp ở phía Bắc tỉnh, thì ông bị tử trận trong một trận ác chiến.

Triều đình truy tặng ông hàm Bố chính.


(Theo Đại Nam thực lục - Đăng khoa lục)

 

 

 PHẠM VĂN NGHỊ



Phạm Văn Nghị hiệu là Nghĩa Trai, biệt hiệu là Liễu Động chủ nhân, sinh năm Ất Sửu (1805). Ông người làng Tam Đăng, tổng An Trung Thượng, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, nay là thôn Tam Đình. Ông thông minh, lại miệt mài kinh sử.

Năm Đinh Dậu (1837) khi ông 33 tuổi, đậu Hương cống. Năm Mậu Tuất (1858) ông 34 tuổi, đậu hoàng giáp. Ngay sau khi thi đỗ, ông được bổ làm Hàn lâm viện Tu soạn, sau được bổ làm Tri phủ Lý Nhân.

Năm 1852, ông cùng với người anh là Phạm Văn Thạch cùng 14 sĩ phu các tỉnh Nam Định, Hưng Yên đứng ra chiêu tập dân nghèo lưu tán đến khai hoang, đắp đê, lấn biển, thau chua rửa mặn lập nên trại Sĩ Lâm. Sau trại phát triển thành tổng Sĩ Lâm rồi cả miền hạ huyện Nghĩa Hưng với hàng chục làng xã mới được thành lập.

Ngày 1/9/1858, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) sau đó đánh Gia Định. ông tổ chức một đội quân "quân Nghĩa dũng” vào Đà Nẵng đánh giặc Pháp.

Ngày 21/6/1860, đoàn quân Nam tiến của Phạm Văn Nghị tới kinh đô Huế. Khi đó quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng tập trung binh lực đánh phá ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Phạm Văn Nghị xin vua Tự Đức cho vào Nam Kỳ đánh Pháp. Với tư tưởng đầu hàng giặc, Tự Đức lấy cớ quân sĩ gian lao, bắt đoàn quân Nam tiến phải quay trở lại Nam Định. Phạm Văn Nghị không thể chống lại lệnh vua, cùng đoàn quân đem theo nỗi bất bình trở ra Bắc.

Ngày 10/12/1873, giặc Pháp cho tầu Xcoocpiông theo sông Đáy đến làng đạo Vĩnh Trị để phối hợp với bọn phản động trong đạo Thiên Chúa giáo đã được cố đạo Puyginiê vũ trang làm nội ứng khi quân Pháp tấn công. Song Tú tài Phạm Đăng Hài (con trai Phạm Văn Nghị) đã chỉ huy nghĩa quân tấn công quân đạo trước khi tàu Pháp tới khiến chúng tan rã. Tàu giặc tới ngã ba sông Đào chảy vào sông Đáy thuộc địa phận huyện Ý Yên thì bị gần 1000 nghĩa quân do Phạm Văn Nghị chỉ huy đóng ở đồn Độc Bộ và quân của Lãnh binh Nguyễn Văn Lợi đóng ở đồn Phù Sa chặn đánh. Không ngờ lãnh binh Nguyễn Văn Lợi khiếp sợ kéo quân tháo chạy chỉ còn một mình Phạm Văn Nghị chỉ huy quân sĩ chống giữ, mãi đến khi súng hỏng, đạn hết mới chịu rút lui.

Với tinh thần có trách nhiệm với đất nước, ông cho rằng trận thua ở Độc Bộ là do mình tài năng kém, làm chưa hết phận sự của người làm tướng, liền trầm mình dưới sông tự vẫn đến hai lần. Những người đi theo vớt được đưa về thuốc thang chạy chữa. Đẩy lùi được quân ta ra khỏi đồn Độc Bộ, quân Pháp tràn vào đồn phá hủy súng thần công các cỡ rồi tiếp tục cho tầu tiến về tỉnh thành Nam Định, ngày 11/12/1873 thành Nam Định rơi vào tay giặc Pháp.

Năm 1874, triều đình Huế ươn hèn, sợ giặc đã ký Hòa ước với chúng, buộc Phạm Văn Nghị phải giải tán Nghĩa quân, cử ông làm Bang biện. Ông lấy cớ tuổi già xin nghỉ về dưỡng bệnh. Nhưng triều đình Huế sợ giặc Pháp vì vẫn sử dụng người chống Pháp, nên trước khi ông nộp đơn đã nghị án rằng trước đây ông đã không giữ được tỉnh thành Nam Định, nên cách hết chức tước của ông. Ông về ở ẩn tại động Liên Hoa (Gia Viễn - Ninh Bình).

Giặc Pháp ngày càng bành trướng, triều đình thì ký Hiệp ước đầu hàng giặc Pháp, ngăn cấm nhân dân tuyên truyền, vũ trang chống Pháp. Phạm Văn Nghị xem chừng không có cơ hội đánh được giặc, ông di cư về làng Hóa Thiên tổng Bồng Hải, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mở trường dạy học, học trò đến học rất đông...

Trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than, ông buồn chán mất ngày 11 tháng 1 năm Canh Thìn (1880) thọ 76 tuổi. Triều đình truy phục hàm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ.



 NGUYỄN VĂN HIỂN



Nguyễn Văn Hiển, tự Doãn Trai, người xã Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị nay xã Mỹ Chánh thuộc huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị. Ông sinh năm Đinh Hợi (1827). Năm Bính Ngọ (1846), ông 20 tuổi, đỗ Hương cống, năm Đinh Mùi (1847) ông 21 tuổi, đỗ Tiến sĩ.

Thi đỗ Tiến sĩ, ông nhập ngạch Hàn lâm viện Tu soạn. Năm Mậu Thân (1848), Tự Đức nguyên niên, ông được bổ làm Tri phủ Kiến Tường, rồi đổi làm Tri phủ Điện Bàn.

Ông là người sáng suốt, làm việc có kế hoạch, hết lòng vì dân. Những năm đói kém, ông thực hiện việc phát chẩn cho dân có hiệu quả, nhờ vậy ân trạch của triều đình mới đến được dân nghèo. Tuần phủ Gia Định Phạm Thế Hiển nhận mật chỉ về xét tình hình Quảng Nam, thấy việc ông làm ở đây đúng chính thuật trị dân, đem tâu lên. Vua vô cùng ngợi khen, cho thăng Hàn lâm viện Thị độc, nhưng vẫn giữ chức tại phủ đó để khuyến khích những người hết lòng vì dân. Sau vì bà nội già yếu, ông xin về phụng dưỡng bà. Ngoài giờ chăm sóc bà, ông còn mở trường dạy học. Học trò của ông nhiều người thành đạt. Tổng đốc Bùi Quỹ đề cử ông lên vua, ông được bổ làm Đốc học.

Khi quân Pháp xâm lược, đánh phá bán đảo Sơn Trà vào năm 1858. Chúng bị Nguyễn Tri Phương, Ông ích Khiêm, Phạm Thế Hiển cầm chân tại chỗ, liền rút quân vào Nam Kỳ tiến đánh cửa Cần Giờ, theo sông Sài Gòn đánh chiếm tỉnh thành Gia Định. Triều đình cử ông coi sóc quân vụ ở cửa Thi Nại, là cửa biển quan trọng. Ông đã tích cực xây dựng các vị trí phòng thủ, đặt súng đại bác, huấn luyện quân sĩ sử dụng súng bắn nhanh mua của người Anh tại Hồng Kông.

Việc yên, ông được thăng Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, cử làm án sát tỉnh Quảng Ngãi. Ông là người am hiểu việc binh có cơ mưu, có tài thao lược, nên được triều đình cử làm Tán tương ở mặt trận Biên Hòa giúp Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Duy xây dựng và giữ Đại đồn Biên Hòa.

Sau Nguyễn Văn Hiển được Triều đình cử làm Phủ doãn Phủ Thừa Thiên. Ông chưa kịp đi thì triều đình thay đổi, cử ông làm Tuyên phủ sứ Phú Yên.

Ông mất khi tại chức mới 39 tuổi, được truy tặng Phú Yên Tuyên phủ sứ.

Chân Tâm An

 


Đọc 1183 thời gian
Tin Mới Hơn

( 03/01/2015 ) Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp »

( 22/11/2014 ) Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ »

( 16/11/2014 ) Các thiên tài thế giới thời còn đi học »

( 08/11/2014 ) Bác sĩ góc Việt được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào ủy ban cố vấn »

( 12/10/2014 ) Tiến sĩ Võ Đình Tuấn: Nhà khoa học tiên phong của lượng tử ánh sáng »

( 02/10/2014 ) Bà Aung San Sun Kyi nhận giải Nobel Hòa Bình »

( 02/10/2014 ) Minh Trị Thiên Hoàng: Những yếu tố canh tân thành công »

( 02/10/2014 ) Lý Quang Diệu: tầm nhìn toàn diện về Trung Quốc »

( 02/10/2014 ) Những tỷ phú: " Vươn lên từ hai bàn tay trắng" »

( 02/10/2014 ) Bill Gates: Tấm gương về hoạt động từ thiện »

( 02/10/2014 ) Con đường thành công của Bill Gates »

( 02/10/2014 ) Những bai học trên con đường sự nghiệp của Steve Jobs »

( 02/10/2014 ) Steve Jobs kể cuộc đời trong diễn văn bất hữu »

( 02/10/2014 ) Người phụ nữ tự đẩy lui tế bào ung thư sau 3 tháng ngồi thiền, bài cô thu »

( 02/10/2014 ) Gặp người dùng Thiền Định mở luân xa chữa bệnh cho 6 vạn người, đưa sau »

( 24/08/2014 ) Cậu bé gốc Việt 12 tuổi thỉnh giảng tại ĐH Mỹ »


Tin Củ Hơn

( 24/08/2014 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 25/09/2015 ) « Phần 57 - 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam

( 24/08/2014 ) « 6 tỷ phú người Việt khiến dân Mỹ nể trọng

( 24/08/2014 ) « Giáo sư Ngô Bảo Châu

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top