• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


TRƯƠNG QUYỀN

Trương Quyền còn gọi là Trương Tuệ, Trương Huệ, cậu Hai Quyền. Ông là con trai của Trương Định, quê gốc ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông luyện tập võ nghệ từ tuổi thiếu niên nên giỏi võ nghệ, tài trí mưu lược, xuất quỉ nhập thần.

Ngày 25/8/1864, Trương Định hy sinh nghĩa quân hoang mang vì mất chủ tướng. Khi đó Trương Quyền mới 18 tuổi đã thay cha chỉ huy nghĩa quân. Ông phối hợp với thủ lĩnh Võ Duy Dương và thủ lĩnh quân Khmer là Achar Sva (Axoa) tiếp tục đánh Pháp.

Ngày 7/6/1866 , Trương Quyền và Pôkômbô dùng mưu dụ tên quan ba Laclo (Larclbause) ra cách đồn chừng hơn một cây số lọt vào ổ phục kích giết chết hắn và bọn lính đi hộ vệ. Tên quan năm Mác xe (Marchausre) từ Sài Gòn lên cứu viện cũng bị nghĩa quân giết chết.

Cuối tháng 6/1866, quân Pháp ở Sài Gòn điều động quân đi đối phó với nghĩa quân Thiên hộ Dương ở Mỹ Tho, Cao Lãnh.

Đêm 23/6/1866, Trương Quyền và Pôkômbô xuất quân từ cầu An Hạ (nằm giữa Tầm Lạc và sông Vàm Cỏ Đông) tiến về Binh Biền (đường chợ Lớn đi Mỹ Tho) đột nhập vào Chợ Lớn tấn công đồn Thuận Kiều cách Sài Gòn 10 cây số. Ông đánh giáp lá cà với bọn kỵ binh Spalus. Trận ác chiến xẩy ra, Trương Quyền chiếm được đồn giết chết tên đội Pháp, nhiều lính Pháp và lính Nam, làm bị thương một số tên, chỉ còn năm, ba tên sống sót chạy đi báo cho quân Pháp.

6 giờ sáng, Trương Quyền chỉ huy nghĩa quân đánh quân tiếp viện. Sau 2 giờ kịch chiến, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề, song quân ta cũng núng thế. Đúng 8 giờ sáng, Trương Quyền cho quân rút khỏi Thuận Kiều về Bà Hom.

Giặc Pháp ở Sài Gòn hoảng sợ bắn súng lớn rồi báo động nghĩa quân đang đến sát "ngưỡng cửa của Sài Gòn", hôm sau tên giám đốc Nội An ra thông cáo để trấn an, rồi 7 giờ tối bọn Pháp dân sự ở Sài Gòn nhận được chỉ thị mật cho biết “Loạn quân” có thể xuất hiện trong thành phố, nghe tiếng súng thì phải tập trung ba, bốn người một nhà, dựng chướng ngại vật chặn cửa, bình tĩnh đối phó vì ngoài đường có lính cưỡi ngựa tuần phòng rồi.

Quân Pháp và quân Đốc phủ Ca tập trung lực lượng phản công. Trương Quyền phải rút quân về đánh quân Pháp ở Trảng Bàng. Pháp sai trung úy Eymard đem quân vây đánh. Trương Quyền phải rút quân vào rừng rồi lên Tây Ninh hợp quân với Pôkômbô mở mặt trận mới. Song trước khi rút, ông cho quân tập trung súng bắn mãnh liệt vào căn cứ quân sự của quân Pháp khiến chúng rối loạn, một số tên tháo chạy.

Tin Trương Quyền phối hợp với Pôkômbô tấn công quân Pháp báo về Sài Gòn. Bọn chỉ huy Pháp sai 200 lính là 50 lính Thượng do thiếu úy Rémiot Lerbuer chỉ huy đến Tây Ninh tăng viện.

Từ đó nghĩa quân Việt - Khơ me phối hợp với nhau đánh Pháp ngày càng nhịp nhàng chặt chẽ. 12 giờ trưa ngày 2/7/1867 liên quân Việt - Khơ me đánh quân Pháp ở Trà Vang (Bắc Tây Ninh). Quân Pháp thiệt hại nặng nề phải tháo chạy về Tây Ninh. Nghĩa quân phục kích trên đường chúng rút chạy diệt thêm một số tên nữa. Hôm sau, đêm 3/7/1 866, liên quân Việt - Khơ me lại táo bạo đột nhập vào thành phố Tây Ninh, đốt phá dinh thự, lị sở quân Pháp và Nam triều. Ngày 7/7/1866 , Trương Quyền chỉ huy nghĩa quân tiến đánh Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng.

Cuối tháng 7/1866, quân Pháp chia làm bốn mũi có kỵ binh, phiêu binh và quân bộ tấn công vào Rạch Vui. Liên quân Việt - Khơ me có ít đạn nên bị chết nhiều. Tổng hành dinh Pôkômbô bị trúng đạn. Các ổ súng đồng bị đổ vỡ tê liệt. Trước tình thế đó, Pôkômbô rút về Nam Vang, Trương Quyền rút về Biên Hòa tiếp tục đánh quân Pháp.

Ngay sau đó nghĩa quân Việt - Khơ me lại đánh đồn An Cư ở Tây Ninh - đây là một trận đánh lớn. Quân Pháp bị tiêu diệt một trung đội và 2 tên đại úy Pháp. Nghĩa quân Trương Quyền cũng bị thiệt hại.

Tháng 11/1867, nghĩa quân Pôkômbô vượt sông Cửu Long đánh thẳng vào Công Pông Thom phía bắc Biển Hồ. Tại đây Pôkômbô bị thương rồi bị bắt và bị giết vào ngày 3/12/1867.

Trương Quyền vẫn tiếp tục chiến đấu ở vùng rừng núi Tây Ninh, xây dựng căn cứ ở Nha Mét. Thời gian này lực lượng nghĩa quân đã yếu, nên chỉ đánh được những trận nhỏ. Ông cũng hợp tác với lực lượng kháng chiến của người Khơ me và người Stiêng. Trong nghĩa quân Trương Định có Trần Tử Ca, người Hanh Thông Tây, sau đầu hàng Pháp theo đạo Thiên Chúa cùng Trương Công Tấn một nghĩa quân thân tín của Trương Định đầu hàng Pháp trở lại đàn áp nghĩa quân Trương Định. Bàn tay hắn đẫm máu nghĩa quân và đồng bào yêu nước. Năm 1862, quân Pháp cho Trần Tử Ca làm Tri huyện Bình Long (Hóc Môn). Năm 1865, hắn đàn áp nghĩa quân Trương Quyền, tham gia vào đội quân xâm lược đánh chiếm ba tỉnh miền Tây. Tháng 5/1870, Trần Tử Ca cho tay chân xâm nhập vào hàng ngũ nghĩa quân Trương Quyền giết chết ông.

Tội ác của Trần Tử Ca chất cao như núi, mãi đến ngày 27 tháng chạp năm Giáp Tuất (1884) Quản Hớn mới đánh vào phủ đệ của hắn, giết chết hắn.



LINH MỤC KHÂM

Linh mục Khâm tên thật là Đặng Đức Tuấn, sinh năm 1805, người làng Gia Hựu, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng hay chữ từ bé, nhưng năm 1825 đi thi không đỗ. Ông được các linh mục Pháp chọn đi học ở chủng viện Pơnay (Malaisia) trong 7 năm, ông trở thành linh mục lấy tên là Khâm. Ông nổi tiếng là người học rộng, biết nhiều.

Ngày 1/9/1858, quân Pháp đánh bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, ngày 17/2/1859, quân Pháp đánh thành Gia Định. Ông bị triều đình nghi ngờ có liên quan với quân Pháp, nên bị triều đình bắt giải về Huế.

Tháng 9/1859, triều đình Huế giao cho bộ Lễ, phụ trách tuyển những người biết tiếng Pháp sử dụng làm thông ngôn, phiên dịch thì ông được tha. Cuối tháng 4/1862, linh mục Khâm được bộ Lễ cử làm phiên dịch cho phái đoàn của triều đình Huế do Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp làm chánh phó sứ vào Gia Định để ký hiệp ước ngày 9/5/1862.

Linh mục Khâm đã biết nhiều điều tai nghe, mắt thấy, kể cả việc giáo dân bị giết hại. Nhưng ông không mù quáng như một số linh mục và giáo dân đã tiếp tay cho giặc Pháp xâm lược Việt Nam, gây nên mối hận thù trong giáo dân và dân lương. Ông đã bày tỏ lòng yêu nước, lên án giặc Pháp cướp nước. Ông là người Thiên Chúa giáo đầu tiên ở Việt Nam vạch rõ giặc Pháp đã lợi dụng đạo Lành (đạo Thiên Chúa) để đẩy nhanh tốc độ xâm lược Việt Nam. Trong một bài “Tự tích việc đạo nước Nam văn”, sau khi kể các hành động tội ác xâm lược ông viết:

...Khéo là tội báo oan gia ,
Tính bề trục lợi khéo pha đạo Lành
Mượn câu giảng đạo làm danh
Làm cho giáo hữu tan tành phen ni
Làm cho nhà nước sinh nghi
Giam cầm đầu mục khinh khi đạo trời.
...

Khi đi học ở Malaisia và đi các nước khác và nghiên cứu các sách Tân thư viết bằng tiếng Pháp, dịch ra tiếng Hán, ông đã thấy nhiều nước như Nhật Bản, Malaisia, Hồng Kông, Ma Cao thuộc Anh của Trung Quốc đã có những cải cách kinh tế lớn theo phương Tây mà trở nên hùng cường. Năm 1862, ông đã gửi điều trần lên vua Tự Đức đề nghị cải cách kinh tế, văn hóa, quân sự như Nhật Bản để chống Pháp xâm lược. Những bản điều trần của Đặng Đức Tuấn sớm hơn các điều trần của Nguyễn Trường Tộ một năm. (Nguyễn Trường Tộ gửi bản điều trần đầu tiên là vấn đề tôn giáo ngày 29/3/1863).

Sau này Phan Bội Châu đánh giá "Đặng Đức Tuấn là một trong những người đầu tiên thắp sáng lên những mầm văn minh trên đất nước ta".



TÁN KẾ

Tán Kế tên thật là Lê Quang Quan, chưa rõ năm sinh. Quê gốc ở tỉnh Bình Định, đến đời ông nội vào lập nghiệp tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Ngày 26/5/1862, Tự Đức cử phái đoàn của triều đình do Phan Thanh Giản làm chánh sứ, Lâm Duy Hiệp làm phó sứ vào Sài Gòn để cùng Bằng ký hiệp ước. Ngày 5/6/1862 Phan Thanh Giản ký với Bôna "Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” với Pháp và Tây Ban Nha.

Lê Quang Quan bất mãn bỏ ngũ về Mỹ Chánh tập hợp trai tráng trong vùng, chia thành đội ngũ, luyện tập võ nghệ cho anh em. Ông chiêu tập thợ rèn các nơi về chế tạo vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 6 năm 1867, giặc Pháp đánh ba tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (khi đó thuộc Vĩnh Long) Lê Quang Quan yết bảng chiêu mộ quân, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (Châu Phú, Châu Thới, Châu Bình). Để có danh nghĩa chỉ huy, ông tự xưng là Tán tương quân vụ, lấy mật danh là Kế vì vậy nghĩa quân và nhân dân gọi ông là Tán Kế.

Nghĩa quân do Tán Kế lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (khi đó phần lớn đất đai là rừng rậm), thực hiện lối đánh tập kích, phục kích gây cho quân Pháp tổn thất nặng nề.

Trước tình thế bị giặc bao vây truy quét, đạn dược thiếu, lương thực cũng rất khó khăn, Tán Kế giải tán lực lượng, chỉ giữ lại số người thân cận, khỏe mạnh, có tinh thần chiến đấu cao rút vào vùng lau sậy, chà là, tránh những trận tấn công ồ ạt của giặc chờ cơ hội phát triển lực lượng, tiếp tục cuộc chiến đấu. Không ngờ một tên phản bội báo cho quân Pháp biết nơi Tán Kế ẩn náu. Lập tức bọn Pháp điều động hàng trăm quân bao vây, lùng sục. Tán Kế chỉ huy số nghĩa quân ít ỏi đánh trả bọn Pháp kịch liệt, giết một số tên. Cuối cùng ông và một số nghĩa quân bị chúng bắt được.

Sau khi tra tấn ông bằng đủ cực hình, không moi ở ông được điều gì, chúng chém ông ngày 11 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 21/2/1869) bêu đầu ở Tân Thới ba ngày để uy hiếp dân chúng. Trong dân gian ở vùng này còn lưu truyền giai thoại, đầu ông Tán Kế để trong giỏ tre, hai mắt vẫn mở trừng trừng. Nhân dân Ba Châu an táng ông tại làng Mỹ Chánh, nhân dân trong tỉnh nhiều nơi lập miếu thờ ông. Đền chính được xây tại xã Mỹ Chánh.



NGUYỄN KHẮC TRẠCH

Nguyễn Khắc Trạch tự An Phủ, hiệu Nhuế Xuyên, sinh năm 1797, người làng Bình Hồ, huyện Đông Yên, trấn Sơn Nam, nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) ông đậu Hương cống, được bổ làm Tri huyện huyện Yên Lạc, Sơn Tây nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó làm Tri phủ phủ Yên Khánh (Ninh Bình), Tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Sau một thời gian ông giữ chức Viên ngoại lang rồi Trung ngoại lang bộ Hình, rồi lần lượt ông giữ chức Án sát Hải Dương, Án sát Hà Tĩnh. Năm 1849 ông làm Bố chính (quan đầu tỉnh) Gia Định, khi đó còn có tên là Phiên An. Tôn Thất Thuyết giữ chức Án sát. Hai ông đều có chung một đức tính tính tình cương trực, thanh liêm, nên trở thành bạn chí cốt.

Khi tình hình Gia Định ổn định ông được điều về làm Tuần phủ Vĩnh Long. Năm 1855, Tự Đức thứ 8, ông được triệu về triều giữ chức Hàn lâm trực học sĩ, sung Biên tu Quốc sử quán.

Trong khi giữ các chức vụ ở địa phương ông luôn luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, chú trọng khai hoang, làm thủy lợi. Ông còn chủ trương giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân và rất lưu tâm đến việc học hành, khuyến khích mở trường học. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của triều Nguyễn viết về ông như sau: “Trạch đi đến đâu cũng khuyến khích các sĩ tử. Các học trò tài vào bậc nào thành đạt vào bậc ấy, học tập thường đến vài trăm người”.

Trong thời gian ông làm Toản tu ở Quốc sử quán ở triều đình thì năm 1858 giặc Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Nguyễn Tri Phương, Ông Ích Khiêm đã chặn đứng cuộc xâm lược đó. Không đánh chiếm được Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công kinh thành Huế, ngày 10/2/1859 chiến thuyền liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo vào Sài Gòn. Ngày 17/2/1859, quân Pháp mở đợt tấn công quy mô lớn vào thành Sài Gòn và các pháo đài. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Triều đình Huế vội vàng ký hòa ước và ngăn cấm nhân dân kháng chiến. Kết cục là đến năm 1864 quân Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trước thảm họa của đất nước, triều đình Huế vẫn tiếp tục chính sách đầu hàng, khi đó ông đã mấy lần dâng sớ xin về chí sĩ, mãi đến năm 1864 khi đó ông đã 67 tuổi, Tự Đức mới chấp nhận. Ông về quê sống một cuộc đời dân dã với nông dân, khuyến khích nông dân mở mang nông nghiệp, trồng dâu, nuôi tằm, quan tâm đến việc học của lớp trẻ.

Khi Nguyễn Tri Phương mất, Nguyễn Khắc Trạch có bài văn khóc ông trong đó có câu: (dịch) “Cách đây không lâu, giặc Tây dương gây biến, cõi Đông (Nam Kỳ) bị chia cắt. (Ông) đảm đương giữ muôn dặm thành dài. Năm trước, giặc Tây lại đến Hà Nội (ông) là người làm tướng ở xa triều đình đã lấy lợi ích của xã tắc làm trách nhiệm”. Nguyễn Khắc Trạch đánh giá rất cao phẩm chất anh hùng của Nguyễn Tri Phương: "Đá núi Nùng chính là tâm bia truy lệ vậy ".
Nguyễn Khắc Trạch mất vào giờ Thân, ngày 22 tháng 6 năm Giáp Thân (9/1884) tại quê ở làng Bình Hồ. Tôn Thất Thuyết khi đó là Thượng thư bộ Binh, phụ chính đại thần gửi câu đối viếng:

“Cố địa vô song, cộng đạo Phiên An di cựu khách
Tiên Sinh hà khứ trùng khan Hàm Tử chính đường niên

Dịch:

Đất cũ không quên, những tưởng cũng đương đến, Phiên An còn lại khách cũ
Tiên sinh về đâu, xem sao được nữa trận Hàm Tử diễn lại ngay trong năm nay.

Nguyễn Khắc Trạch còn là một nhà thơ. Ông để lại trên mười tác phẩm như: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên văn tập, Nhuế Xuyên thặng bút thi tập, Nhuế Xuyên trùng tập, Nhuế Xuyên tùy bút tập...



VŨ PHẠM KHẢI

Vũ Phạm Khải tự là Đông Dương, người thôn Phượng Trì, tổng Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) ông đỗ Cử nhân được bổ làm Tri phủ huyện Quỳnh Lưu. Gặp lúc ở Quỳ Châu báo động có giặc, ông được cử giúp việc quân và được cất làm Lễ khoa cấp sự trung.

Năm Tự Đức thứ nhất (1848) vì lời ông nói thẳng bị quan lại gièm pha tâu với Tự Đức, ông bị bãi chức, liền trở về quê. Gặp lúc Bắc Kỳ có giặc, hãm phủ Thiên Quan, ông đưa con em, học trò ra tòng quân, thu lại tỉnh thành. Việc đến tai vua, vua sai ông làm Bang biện tỉnh Ninh Bình. Ít lâu sau ông lại được thăng Thị độc học sĩ bổ làm Bố chính Thái Nguyên. Ông làm quan trải ba triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông là vị quan một lòng thương dân, lo cho dân. Khi ông làm tri huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), ở ấp Thạch Đồng vì đói kém, thuế khóa nặng nề, dân bỏ đi. ông giảm, miễn thuế, trợ cấp cho dân nghèo. Do thực hiện chính sách cởi mở, những người bỏ quê đã hồi hương. Nhớ ơn ông, khi ông mất, dân ấp Thạch Đồng lập đền thờ ông.

Vào một năm Hà Nội, Ninh Bình gặp lụt đói kém, Vũ Phạm Khải thương xót, nhưng ông không có đủ quyền hạn để giải quyết, đã viết thư cho bạn làm quan ở hai tỉnh đó từ cho quan lại địa phương xem xét kỹ càng tình hình thiệt hại để có biện pháp cứu giúp.

Có lần vua cử Vũ Phạm Khải về Bắc Kỳ kinh lý. Khi đến huyện Kim Động (Hưng Yên) gặp lúc địa phương bị tai hại, mà trong huyện thành vẫn hát xướng, ông đã dâng sớ hặc xin cách chức viên tri huyện Kim Động. Trong sớ có câu: "Ngoài thành khóc, mà trong thành hát, không có lòng trắc ẩn không phải là cha mẹ dân". Sau đó viên tri huyện này bị cách chức.

Trong thời gian về nghỉ ở quê (1849-1856) ông đã cùng Nguyễn Công Trứ khai khẩn vùng đất bồi Kim Sơn - Văn Hải ở gần quê nhà, lập ra ấp Tuy Định. Khi ông mất nhân dân ấp Tuy Định đã nhờ Phạm Văn Nghị, bạn thân của ông ở Nam Định làm bài văn tế, nhắc đến công đức của ông, trong đó có đoạn:

“Có một điều mà cụ xưa thường nói: đất cát là để nuôi sống người. Phượng Tài ta có một phần bãi bể, đem người làng và con em ra mở mang lập ấp, một mặt để thêm thuế khóa cho nhà nước, một mặt để làm nơi sinh sống cho mọi người của ta..., đến nay đã được nhiều năm có kết quả, việc đó là nhờ có sức cụ mở mang từ nhiều năm mới có được. Nay cụ mất đi, nhưng việc làm vẫn còn đó. Thế là cụ vẫn sống mãi”.

Vì ông có công lao, cha được tặng Nghi đại phu Hàn lâm viện thị độc, tên thụy là Đoan Trực, mẹ được tặng Ngũ phẩm nghi nhân.

Năm 1858, giặc Pháp đánh phá bán đảo Sơn Trà, năm 1859 đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Triều đình Huế hoang mang, sợ hãi. Vũ Phạm Khải đã kiên cường đứng về phe chủ chiến. Ông cũng viết nhiều văn kiện chống nghị hòa gửii vua Tự Đức như "Biện hoặc luận”, "Lỗ Trọng Liên bất đế Tần luận”, "Hòa nhung luận”.

Khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, thực dân Pháp ép triều đình Huế hòa nghị. Vũ Phạm Khải khi đó đang ở Quốc sử quán đã dâng sớ lên Tự Đức nói cái hại của sự giảng hòa và bàn nên cử chiến tướng ra trận.

Ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ mất, lòng ông đau xót vô cùng. Nhưng ông biết tai họa cho đất nước không dừng ở đấy âm mưu của giặc thôn tính nước ta ngày càng lộ rõ. Ông lại dâng sớ lên triều đình bàn kế phòng thủ và quyết chiến với giặc. Nhưng lúc này triều đình dấn sâu vào con đường đầu hàng, bỏ ngoài tai bất cứ sớ, tấu, kiến nghị nào nói về đánh giặc.

Quân Pháp nuốt gọn ba tỉnh miền Đông, lại có âm mưu chiếm ba tỉnh miền Tây, chúng phái tên Vial từ Gia Định ra Huế đòi triều đình nhường nốt ba tỉnh miền Tây cho chúng. Triều đình đem ra bình nghị. Vũ Phạm Khải cũng được tham dự. Cuộc bình nghị đa số các quan đều ngả về chủ hòa, khiến ông bất bình. Các đại thần nhìn ông có ý muốn ông phát biểu trước. Ông thẳng thắn nói:

“Lòng tham của giặc không bao giờ chán, ta đã chót lầm lỡ một lần, hay còn lầm thứ hai nữa? Nhất định không thể cho chúng nó được”.

Cuộc bình nghị đa số các quan đều ngả về chủ hòa, không giữ được bình tĩnh, ông lớn tiếng:

“Chiến sĩ đời xưa không nói hòa, chiến sĩ đời nay chỉ một mực nói hòa. Quan võ đời xưa không sợ chết, quan võ đời nay chỉ một mực sợ chết, sao mà đời nay lại khác hẳn đời xưa như vậy!”.

Năm Tự Đức thứ 18 (1865), Vũ Phạm Khải làm Thị độc học sĩ sung Toản tu sử quán. Khi đó ở Nam Kỳ giặc Pháp ráo riết đánh ba tỉnh miền Tây. Trong một số lần triều đình họp, Khải được dự, ông đều đứng về phe chủ chiến là đánh, chỉ có đánh mới giữ được chủ quyền đất nước. Song ông chỉ là một quan nhỏ, những người trong phe chủ chiến đã bị gạt ra khỏi triều chính, nên ông rất buồn phiền.

Năm 1868, ông được cử làm thương biện để ngăn giữ vỗ yên công việc Ninh Bình. Chính trong thời gian này ông đã giúp nhân dân Ninh Bình chấn hưng nông nghiệp, hoàn chỉnh các công trình dẫn thủy nhập điền ở vùng đất mới khai hoang.

Năm Tự Đức thứ 23 (1870), Vũ Phạm Khải làm quyền biện Bố chính sứ ở Thái Nguyên. Tỉnh này đã bị giặc tàn phá nhiều năm, dân tình điêu đứng. ông tới Thái Nguyên mới được vài tháng, đang ổn định tình hình thì đột nhiên giặc là Đặng Chí Hùng kéo tới. Tỉnh không có viện binh, tình thế rất gấp, Vũ Phạm Khải đưa thư dụ Chí Hùng việc họa phúc. Đồng thời ông cấp báo về kinh, vua nhận được thư liền cho Tham tán Lê Bá Thận hợp với tuần biên Trần Văn Mỹ đánh dẹp. Vũ Phạm Khải đóng đồn ở châu Bạch Thông, bị giặc vây hãm và bị bắt. Vua nghe tin kíp sai bày cách cứu về.

Vì thua trận, Vũ Phạm Khải bị giáng ba cấp lưu dùng, bổ làm Tả thị lang bộ Hình, kiêm sung sử quán Toản tu. Ông tới kinh bị đài thần hặc tâu, vua sai giao xuống đình luận. Việc chưa xét thì ông bị ốm chết vào ngày 22 tháng chạp năm Tân Mùi. Khi ông mất có nhiều câu đối phúng viếng. Trong đó có đôi:

Phiên âm: VÃN ĐÔNG DƯƠNG TIÊN SINH

Tâm sự như bạch nhật thanh thiên, lỗi lỗi
Thần khí tại Càn nhai bãng lĩnh thương thương thế thế.

Dịch nghĩa: VIẾNG ĐÔNG DƯƠNG TIÊN SINH

Tâm sự giữa trời xanh, ngày rộng quang minh chính đại
Tinh thần nên núi thẳm cùng mây thương cảm thê lương.


Chân Tâm An

Đọc 1193 thời gian
Tin Mới Hơn

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp

( 22/11/2014 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 16/11/2014 ) « Các thiên tài thế giới thời còn đi học

( 08/11/2014 ) « Bác sĩ góc Việt được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào ủy ban cố vấn

( 12/10/2014 ) « Tiến sĩ Võ Đình Tuấn: Nhà khoa học tiên phong của lượng tử ánh sáng

( 02/10/2014 ) « Bà Aung San Sun Kyi nhận giải Nobel Hòa Bình

( 02/10/2014 ) « Minh Trị Thiên Hoàng: Những yếu tố canh tân thành công

( 02/10/2014 ) « Lý Quang Diệu: tầm nhìn toàn diện về Trung Quốc

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top