• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


VŨ CANH

Vũ Canh húy là Tề người làng Tập Mỹ, tổng Bồ Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nay là thôn Tập Mỹ, xã La Sơn, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Thuở nhỏ ông đi học rất thông tuệ, nhưng lại có thiên hướng võ nghiệp, được cha mẹ đón thày về dạy võ, ông miệt mài học và luyện tập nên trở thành người rất giỏi võ.

Ông sung vào lính, trúng tuyển kỳ thi võ, được thăng làm Giám kho Phủ Lý. Quan Giám kho Vũ Canh ở kho Phủ Lý là một trong số những người Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chọn lựa về tăng cường cho thành Hà Nội. Ông đã xây dựng, chấn chỉnh hệ thống kho lương, kho thuốc súng, kho bạc, kho quân trang. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương rất hài lòng về những việc quan giám Vũ Canh làm ở Hà Nội, đã dâng sớ lên vua Tự Đức phong cho Vũ Canh chức “Vũ Canh tướng công Đô úy tinh binh Cai đội”.

Trước việc tên lái buôn Jean Dupuis ngang ngược, ngông cuồng, đòi có "nhượng địa” tại Hà Nội, đòi có muối, than đá chở đi Vân Nam bán. Hắn đòi thu thuế ở Hà Nội, xé các thông cáo của Hà - Ninh Tổng đốc dán bố cáo của hắn. Hắn còn cho 150 tên thổ phỉ ở Vân Nam do hắn mộ về bắt cóc các quan đưa xuống tầu, cướp mấy thuyền gạo của quan quân, cướp phá các hiệu buôn.


Vũ Canh không thể làm ngơ, ông xin với Tổng đốc cho ông trừng trị chúng. Vì Tổng đốc phải chấp hành lệnh của vua Tự Đức không được ngăn cản chúng, mà chỉ để ông tập hợp một số quân lính giỏi võ hành động như “dân anh chị” trừng trị chúng nhiều phen đích đáng. Vũ Canh còn phối hợp với Bá hộ Trần Chí Thiện, Hào mục Nguyễn Văn Hổ và hai con trai là những người có thế lực, có uy tín ở Hà Nội đang chỉ huy những toán vũ trang tự phát, những dân binh thông thuộc đường phố, trừng trị bọn lính Pháp đi lẻ, đánh giết bọn thổ phỉ Vân Nam và đám thanh niên công giáo quá khích, mù quáng được các cố đạo Pháp, Jean Dupuis vũ trang. Các ông còn hô hào dân các phố phường hễ thấy bọn Tây, bọn phỉ Vân Nam, bọn giáo dân quá khích lập tức đổ ra đánh giết, gõ chuông, trống, chậu thau, mâm đồng uy hiếp chúng.

Bọn Jean Duypis rất sợ hãi, mỗi khi ra phố phải kéo đi đông, vũ trang đầy mình, không dám cướp bóc bừa bãi như trước.

Ngày 21/1/1873 tên Francis Garnier đem tàu chiến từ Sài Gòn ra Hà Nội với chiêu bài "Giải quyết vụ Dupuis”, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương thấy rõ dã tâm của Gamier ra Hà Nội là để đánh thành, nên ra lệnh chuẩn bị chiến đấu. Vũ Canh là người kiên quyết chống giặc Lang Sa dã tích cực thực hiện mệnh lệnh trên.

Ngày 12/11/1873, Garnier gởi “Tối hậu thư” cho Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đòi ông phải nộp thành cho chúng. Nguyễn Tri Phương không trả lời, tăng cường phòng ngự. Vũ Canh là người tích cực thực hiện mệnh lệnh của quan Tổng đốc. Ông còn cho phân tán kho tàng, phát trước lương thực, đạn dược cho quân lính, phân tán kho gần 4 cửa thành để cấp phát được nhanh chóng. Ngày 19/11/1873, Garnier lại gửi “Tối hậu thư” một lần nữa, Nguyễn Tri Phương vẫn không trả lời chỉ khẩn trương chuẩn bị chiến đấu. Một số quan lại hoang mang, lo sợ. Vũ Canh đã trấn an họ và thề sống chết với thành.

Vũ Canh không yên phận là quan hậu cần mà ông giao việc này cho người tin cậy, xin chỉ huy một đội quân tham gia giữ cửa Bắc. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chấp nhận, giao cho ông chỉ huy 100 quân và biểu dương ông trước toàn quân.

Ngày 20/11/1873 , quân Pháp bắn đại bác dồn dập vào thành mở đầu cho trận tấn công. Được sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, con trai ông là Nguyễn Lâm cùng các tướng đại bác, thần công đặt trên mặt thành bắn trả. Song quân Pháp sử dụng vũ khí tối tân đã sát thương nhiều quân ta. Quân ta phải lùi dần trước hỏa lực áp đảo của quân Pháp. Chúng phá được cổng thành, Nguyễn Tri Phương thân ra đốc chiến, Vũ Canh luôn đi bên cạnh hộ vệ ông. Song thế giặc rất mạnh, ông cùng Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã hy sinh anh dũng trong trận này.

Dân làng Tập Mỹ làm sớ về triều xin tôn ông làm Thành hoàng thờ cùng với chín vị thần khác. Vua Tự Đức chuẩn tấu sắc cho làng Tập Mỹ thờ phụng, lại ban cho bạc và ruộng tế.

Năm Tự Đức thứ 28 (1875) truy tặng Kiến công đô úy tinh binh cai đội.

Năm Khải Định thứ 2 (1917) gia phong ngài Vũ Canh Tướng công đô úy chi thần là Dực bảo Trung hưng linh phù chi thần.

Năm Khải Định thứ 9 (1929) gia phong ngài Dực bảo Trung Hưng linh phù Vũ Canh Tướng công đô úy tôn thần là Đoan túc Tôn thần.



PHẠM TÀI

Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn có ghi tên hai ông Phạm Tài và Nguyễn Cao vào danh mục 500 vị, thờ ở đền Trung Nghĩa thuộc kinh đô Huế. Song việc đó cũng bị lui vào quá khứ.

Mãi đến năm 1988, ông Phạm Đình Bao ở thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tìm thấy tấm bia mộ bằng đá. Theo lời ông Bao thì đấy là bia mộ Phạm Tài tổ 5 đời dòng họ Phạm Đình ở Diêm Điền.

Phạm Tài là một vị tướng chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Tổng thống quân vụ Đại thần Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển quê ở làng Luyến Khuyết, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình. Thự Tổng đốc hai tỉnh Gia Định Biên Hòa. Các ông xây dựng nhiều đồn lũy trong đó có đại đồn Chí Hòa.

Ngày 23/2/1861, liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công đại đồn Chí Hòa. Ngày 25/2/1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ. Nguyễn Tri Phương bị trọng thương. Nguyễn Duy em trai Nguyễn Tri Phương tử trận.

Chưa rõ sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ thì Phạm Tài và Nguyễn Cao (đồng hương với Phạm Tài) chiến đấu ở đâu và trở về Diêm Điền lập đồn đánh Pháp từ bao giờ vì mãi tới tháng 11/1873, quân Pháp mới đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất.

Tấm bia mộ của Phạm Tài có kích thước 45x30 gồm 52 chữ như sau:

“Bản triều khai quốc công thần Tiền quân Khâm sai Cai cơ chỉ huy sứ Phạm Tài chi hầu chi mộ”.

"Lạc Ngạn Gia Định Phạm Nguyễn đồng quy huân nghiệp bỉnh thanh sử chi công thủy”. Hách hách. Hoang Nguyễn phục nghĩa hưng xúy tảo binh nghịch lỗ khai thác hồng cơ”.

Đại ý:

Phạm Tài là một vị tướng triều Nguyễn, giữ chức Tiền quân khâm cai cơ chỉ huy sứ, tước hầu.

Ông đã chiến đấu bảo vệ thành Gia Định. Sau khi thành Gia Định thất thủ Phạm Tài về quê ở Diêm Điền lập đồn binh chống Pháp, được truy phong “Khai quốc công thần”.

Còn cụm từ 4 chữ "Phạm Nguyễn đồng quy”, theo trí nhớ của ông Phạm Đình Bao, cháu 5 đời của Phạm Tài thì "Nguyễn” ở đây là Nguyễn Cao, một vị tướng là người đồng hương cửa biển Diêm Điền.

Hai ông lập đồn lũy kháng chiến lâu dài, hiện vật còn đến nay là hai khẩu thần công.

Cũng thời gian trên còn phát hiện một tấm bia đá ở đền Thuận Nghĩa trên bờ sông Diêm Hộ thuộc thị trấn Diêm Điền. Bia có kích thước 80 x 60cm, bị gãy đôi, chữ mờ. Bia khắc ở phía trên 5 chữ: "Thuật Nghĩa từ bi ký”.

Bia có 3 nội dung:
- Lược ghi công tích của Phạm Tài và Nguyễn Cao.
- Ý thức nhân dân sùng bái hai vị
- Tên họ người đứng đầu lập bia là cựu lý trưởng xã Diêm Điền (và tu tạo đền).

Dòng lạc khoản ghi rõ:
“Bảo Đại Nguyên niên, tứ nguyệt nhị thập, nhị nhật. Diêm Điền xã tu tạo miếu vũ, cựu lý trưởng Phạm Hữu Biên cẩn chi”.

Cuối năm 1989, tỉnh Thái Bình đã xếp hạng di tích nơi này.



NGUYỄN ĐẠI

Nguyễn Đại người xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông đỗ Cử nhân khoa thi Hương khoa Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11 (1858) tại trường thi Hà Nội. Ông làm quan tới chức Án sát Hải Dương, giúp việc về quân sự, an ninh cho Tổng đốc Đặng Xuân Bảng.

Sau khi được Chính phủ Pháp phê duyệt kế hoạch đánh chiếm Bắc Kỳ, đến tháng 10/1872, Dupré lại sai Sơnê thám sát vịnh Hạ Long lần thứ hai. Tuần phủ Đặng Xuân Bảng, Án sát Nguyễn Đại cùng các quan quan tâm đến việc tầu chiến Pháp xâm nhập vào địa bàn mình quản lý, song chưa có lệnh của triều đình, nên chỉ giám sát các hoạt động của chúng.

Tháng giêng năm 1873, bất chấp sự ngăn cấm của triều đình Huế, tên lái buôn kiêm mật thám Jean Dupuis đưa đoàn thương thuyền vào Cửa Cấm, tới sông Lục Đầu, tới Bắc Ninh, Hà Nội rồi theo sông Hồng sang Vân Nam.

Lệnh của vua ban ra Án sát Nguyễn Đại cũng như Tuần phủ Đặng Xuân Bảng không dám có các hoạt động ngăn trở.

Ngày 20/11/1873, Garnier, Jean Dupuis tấn công thành Hà Nội. Chiếm xong Hà Nội, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Nhận rõ bộ mặt xâm lược của Garnies, Tuần phủ Đặng Xuân Bảng, Án sát Nguyễn Đại cùng các quan tăng cường công tác phòng thủ tỉnh Hải Dương.

Ngày 4/12/1873, Francis Garnier sai trung úy Hải quân Balny đem tàu chiến tấn công tỉnh thành Hải Dương. Trước khi nổ súng Balny quỉ quyệt mời các quan tỉnh xuống tàu để thương thuyết (Tên Balny bị quân ta và quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết trong trận Cầu Giấy ngày 21/1/1873). Án sát Nguyễn Đại cũng như Tuần phủ Đặng Xuân Bảng biết rõ đây là thủ đoạn của giặc Pháp lừa bắt nên từ chối, nhưng trả lời với thái độ mềm mỏng: "Chưa có lệnh của triều đình nên không hành động tùy tiện”.

Không lừa được các quan tỉnh thành Hải Dương, Balny cho đại bác trên tầu chiến nã đạn đại bác vào thành. Nguyễn Đại đã cùng Tuần phủ Đặng Xuân Bảng chỉ huy quân sĩ kiên cường đánh trả quân Pháp. Ông đích thân lên mặt thành đốc thúc quân sĩ bắn mãnh liệt cản đường quân giặc đang ồ ạt tấn công thành.

Song do triều đình Huế chủ trương "Hòa với giặc Pháp" nên đề nghị của Nguyễn Đại tăng quân số, đổi mới trang bị, cho đặt thêm đại bác ở trên mặt thành, thiết lập các vị trí quân sự bảo vệ thành từ xa không được Tự Đức chấp nhận. Vì vậy trong thành không có sự chuẩn bị chiến đấu, quân sĩ trang bị vũ khí lạc hậu, không được huấn luyện, tinh thần chiến đấu sa sút. Khi quân Pháp tấn công nã đại bác cấp tập vào thành thì từ quan văn, quan võ đến lính đều khiếp sợ. Nên đến 11 giờ trưa thành vỡ, Nguyễn Đại phải chỉ huy đội quân cảm tử ở lại đánh chặn quân Pháp để Tổng đốc đưa quan quân rút về Mao Điền.

Mặc dầu triều đình nghị hòa với Pháp, Nguyễn Đại vẫn khẩn trương chấn chỉnh lại quân đội bổ sung thêm khí giới tích cực chuẩn bị phản công, cướp lại thành. Sau ông bị quân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo. Bọn cai ngục hành hạ, đánh đập ông, ông quắc mắt lên quát: "Tao là Nguyễn Đại, người Hà Nội, cử nhân, Án sát Hải Dương, vì tao đánh quân Pháp nên bị chúng nó bắt cầm tù, chúng mày không được vô lễ". Từ đó bọn cai ngục không dám hành hạ ông.



PHÙNG XUẤT NGHĨA

Phùng Xuất Nghĩa quê ở làng Trích Sài vùng Hồ Tây, huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Ông là người cương trực, thường lên án bọn quan lại, cường hào ức hiếp dân, bênh vực người nghèo.

Ngày 1 tháng 10 năm Quý Dậu, Tự Đức thứ 26 (20/11/1873), quân Pháp do Francis Garnier đánh chiếm thành Hà Nội xong rồi lấn ra phủ Hoài Đức, huyện từ Liêm, huyện Gia Lâm, huyện Thanh Trì của các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh… Triều đình Huế đã ra lệnh bãi binh, ngăn cấm nhân dân nổi dậy chống Pháp. Mặc cho triều đình đầu hàng, nhân dân các huyện giáp ranh với Hà Nội vẫn tập hợp lực lượng, tự trang bị vũ khí, thành lập các đội nghĩa binh đánh Pháp ở khắp nơi. Phùng Xuất Nghĩa được cụ đồ Tịch ở làng Cổ Nhuế giúp đỡ đã đứng ra thành lập Nghĩa hội, tuyên truyền phát động nhân dân đứng lên đánh Pháp. Ông vốn là người giao du rộng, được nhiều thân hào, thân sĩ trong vùng kính trọng nên vừa xướng nghĩa đã có đông đảo người yêu nước gồm các nhà nho, người lao động, dân buôn bán, thợ thủ công, làm công cho Pháp ở các làng Trích Sài, Quán La, Võng Thị, Bưởi, Nghi Tàm vùng ven Hồ Tây tham gia. Phùng Xuất Nghĩa tuyển chọn những người khỏe mạnh hăng hái vào đội nghĩa quân. Nghĩa quân tự trang bị vũ khí bằng dáo mác, gậy gộc, súng kíp. Những người còn lại chuyên lo việc điều tra tin tức của địch báo cho quan quân phe chủ chiến, quyên góp tiền bạc, lương thực ủng hộ nghĩa quân. Phùng Xuất Nghĩa tổ chức Lê Tế cờ long trọng ở gò Ngũ Nhạc trong làng Trích Sài giáp ranh với làng Cổ Nhuế, có đông đảo nhân dân vùng Hồ Tây tham dự rồi dẫn quân đi tìm giặc Pháp để tiêu diệt. (Theo Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trần Quốc Vượng chủ biên, Nxb Quân đội nhân dân).

Do lực lượng của ông ít, vũ khí thô sơ, nên đội quân của Phùng Xuất Nghĩa chủ yếu tập kích các đồn giặc vào ban đêm, phục kích các cánh quân đi càn, đi tuần tiễu. Ông còn chỉ huy đánh phá các kho vũ khí quân lương, cướp thuyền chở lương của bọn công giáo phản động chở lương thực, thực phẩm tiếp tế cho quân Pháp. Những hoạt động quân sự, tình báo của Phùng Xuất Nghĩa gây cho quân Pháp nhiều tổn thất, nhiều lần tung quân đi đánh song đều bị ông đánh cho thất bại. Giặc Pháp thuyết phục dụ dỗ ông theo chúng, ông khảng khái từ chối. Chúng tra tấn ông cực kỳ man rợ bắt ông khai ra các đồng chí, song ông vẫn kiên trinh.

Phùng Xuất Nghĩa hy sinh khiến nhân dân vùng Hồ Tây vô cùng thương xót và kính trọng, nhiều gia đình lập bàn thờ thờ ông và lưu truyền sự tích anh hùng của ông đến mãi ngày nay.



HOÀNG KẾ VIÊM

Hoàng Kế Viêm sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thìn (1820), quê ở làng Văn La, tổng Văn Đại, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, nhưng sinh ra ở Bình Hòa, nay là Khánh Hòa. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), ông kết duyên với Hương La công chúa, con gái thứ 5 vua Minh Mệnh, nhưng chẳng bao lâu công chúa mất.

Hoàng Kế Viêm theo học trường Quốc tử giám, năm 1843 đỗ cử nhân, ông ra làm quan sơ bổ Tư vụ, hàm Quang lộc Tự khanh. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), lãnh Lang trung bộ Lại. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), vì có tang mẹ, ông nghỉ 3 năm. Chưa đoạn tang, nhưng đầu năm 1852, miền Bắc có giặc cướp, vua triệu ông về kinh lĩnh chức Án sát Ninh Bình. Năm Tự Đức thứ 7 (1854) thăng Bố chính Thanh Hóa. Năm Tự Đức thứ 12 (1859) thăng chức Bố chính kiêm Tuần vũ Hưng Yên. Năm 1861, các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Yên bị giặc Tạ Văn Phụng, người công giáo, tay sai của thực dân Pháp tàn phá, nhưng tỉnh Hưng Yên do ông cai quản vẫn bình yên.

Năm Tự Đức thứ 16 (1863), Hoàng Kế Viêm lãnh Tổng đốc An - Tĩnh, ông lo mở mang kinh tế, cho đào sông Thiết Cảng để thuyền bè qua lại dễ dàng.

Đầu năm Tự Đức thứ 23 (1870) ông được đổi về triều. Ông đã thẳng thắn can ngăn vua bỏ săn bắn, chơi bời. Vua nghe theo. Triều đình thăng Hoàng Kế Viêm làm Lạng - Bình - Ninh - Thái Tổng đốc quân vụ đại thần (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang) Thái Nguyên (gồm cả Bắc Kạn). Hoàng Kế Viêm nhậm chức, đốc thúc quân sĩ chuẩn bị lực lượng chiếm đồn, đồng thời cho người tin cậy thu thập tình hình, tháng 12/1870, ông viết báo cáo về triều đình tình hình biên giới phía Bắc. Ông đã cầm quân đánh các toán phỉ trên vùng biên giới phía Bắc, trừng trị bọn quan lại tham nhũng, khoan hồng đối với những người bị quan lại áp bức mà mộ quân chống lại. ông cũng thu phục được tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, giao cho Phúc cai quân vùng đất Lào Cai ngày nay. Ông đã cùng với Kinh lược sứ Bắc Kỳ đề nghị với triều đình 9 điều cần phải làm đối với các tỉnh biên giới phía Bắc vừa bình định xong nạn thổ phỉ.

Tháng 10/1871, theo đề nghị của Hoàng Kế Viêm, triều đình Huế đã quy định một số biện pháp để quản lý số người Trung Quốc ở Việt Nam từ Ninh Bình trở ra Bắc. Ngày 20/11/1873, quân Pháp đánh thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết, thành Hà Nội mất, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh Bắc Kỳ. Ngày 20/12/1873, Hoàng Kế Viêm giữ chức Thống đốc quân thứ Tam Tuyên.

Tôn Thất thuyết, Tham tán quân thứ Tam Tuyên, tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, huy động quân ở một số quân thứ và nghĩa quân về phục kích ở Cầu Giấy và cho một toán quân vào Hà Nội khiêu khích giặc Pháp. Francis Ganier đang hội đàm buổi thứ hai với Trần Đình Túc ở trong thành. Thấy bên ngoài thành có động, Francis Garnier bỏ họp đem quân ra ngoài thành nghênh chiến rồi bị phục kích chết. Tàn quân của Garnier rút vào thành cố thủ. Hoàng Kế Viêm định đem quân về đánh thành Hà Nội, nhưng nghe lời bàn thiệt hơn của Hà Ninh tổng đốc Trần Đình Túc nên không động binh, đợi triều đìnhký Hòa ước.

Lẽ ra nhân đà chiến thắng đó, Triều đình lệnh cho các quân thứ ở Bắc Kỳ cùng quân Cờ Đen áp đảo thành Hà Nội và các tỉnh thành Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định và các đồn lính khác của quân Pháp thì triều đình sợ trở ngại cho thương lượng nên mật điều Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết, Lưu Vĩnh Phúc về phòng thủ ở quân thứ Tam Tuyên, không cho hoạt động ở Hà Nội nữa.

Để thưởng công cho các tướng thắng trận Cầu Giấy, đồng thời cũng để tách các ông ra khỏi Hà Nội, tháng 3/1874 (tháng 2 năm Giáp Tuất), triều đình phong Hoàng Kế Viêm làm Hiệp biện đại học sĩ, phong tước Tử; Tôn Thất Thuyết làm Binh bộ Hữu Tham tri, phong cho tước Nam, Lưu Vĩnh Phúc làm Phó Lãnh binh quân thứ Tam Tuyên.

Năm Tự Đức thứ 29 (1875) Hoàng Kế Viêm khuyến khích việc khai hoang, đắp đê sông Nhị Hà, mở mang trường học.

Năm Tự Đức thứ 31 (1878) ông được thăng Đông các Đại học sĩ. Hai năm sau (1880), ông được phong Tĩnh biên sứ kiêm cả đạo Lạng Giang và Đoan Hùng.

Ngày 25/4/1882, trung tá Hải quân Hăngri Rivierơ (Henri Rivière) theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ Lơ mía rơ Đơ vi lơ (Le myre se Vilers) rời Sài Gòn đem theo hai chiến hạm cùng 300 quân ra tăng cường cho lực lượng viễn chinh Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ. Ngày 4/3/1882, Henri Rivière đóng quân ở Đồn Thủy nắm ,quyền chỉ huy tối cao toàn lực lượng viễn chinh Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ. Ngày 25/4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội, đến 11 giờ thành Hà Nội vỡ. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết.

Triều đình muốn thương thuyết đầu hàng Pháp, bắt Hoàng Kế Viêm phải đuổi quân Cờ Đen lên Tuyên Quang và Sông Đà, Hoàng Kế Viêm về đóng ở Thục Luyện (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ).

Triều đình điều đình với Pháp không xong, ngày 12/3/1883, quân Pháp đánh chiếm Hòn Gai. Ngày 22/3/1883, Hoàng Kế Viêm kết hợp với Lưu Vĩnh Phúc đánh Hà Nội, nhưng không kết quả. Ngày 28/3/1883 quân Pháp đánh chiếm Nam Định. Sau khi thành Nam Định mất, Hoàng Kế Viêm bị triều đình giáng xuống hàm Tổng đốc.

Ngày 19/5/1883, Hoàng Kế Viêm triệu tập tướng Lưu Vĩnh Phúc và một số tướng lĩnh khác lại kéo quân về Cầu Giấy, Hà Nội đánh một trận phục kích lớn, giết chết trung tá Hải quân Henri Rivière và những binh lính Pháp. Đây là trận thắng vô cùng lớn lao. Song triều đình sẵn có tư tưởng đầu hàng, nên đã ra lệnh rút quân về Kinh, nhưng Hoàng Kế Viêm không tuân lệnh đã chỉ huy quân dân chiến đấu bảo vệ thành Sơn Tây.

Ngày 14/12/1883 quân Pháp do Đô đốc Cuốc bê chỉ huy tiến đánh thành Sơn Tây. Thành Sơn Tây thất thủ, Hoàng Kế Viêm về đóng quân ở Thục Luyện.

Hoàng Kế Viêm về Huế bị giáng xuống Thượng thư bộ Công. Năm Bính Tuất (1886), dưới triều Đồng Khánh ông xin về hưu không được. Pháp và Đồng Khánh muốn lợi dụng uy tín của ông trong việc phái ông ra Quảng Bình phủ dụ dân chúng nhưng chúng đã thất bại. Cuối cùng, cuối năm 1887, Triều đình phải để cho ông về hưu tại làng Văn La, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Tại quê hương, ông xuất tiền bạc khai khẩn đất hoang cho dân chúng làm ăn. Năm Kỷ Dậu (1909) ông mất tại làng Văn La, thọ 90 tuổi.

Vua Duy Tân thương tiếc vị huân hiền của quốc gia ban cho tên thụy là Văn Nghi.

Hoàng Kế Viêm sáng tác nhiều thơ văn, nay còn các tác phẩm “Phê thị trần hoàn”, “Khôn Y lục” (Thân thế, sự nghiệp công chúa Hương La)…


Chân Tâm An

Đọc 1308 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp

( 22/11/2014 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 16/11/2014 ) « Các thiên tài thế giới thời còn đi học

( 08/11/2014 ) « Bác sĩ góc Việt được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào ủy ban cố vấn

( 12/10/2014 ) « Tiến sĩ Võ Đình Tuấn: Nhà khoa học tiên phong của lượng tử ánh sáng

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top