• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


NGUYỄN MẬU KIẾN

Nguyễn Mậu Kiến, hiệu Kinh Đài, sinh ngày 8 tháng 5 năm Kỷ Mão (6/1819) trong một gia đình giàu có, có truyền thống văn học ở xã Động Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Tuy sinh trưởng trong một gia đình giầu có nhưng Nguyễn Mậu Kiến từ nhỏ đã có lòng yêu nước, thương dân.

ông thường xuyên xuất tiền, thóc để cứu tế cho dân Sơn Nam bị mất mùa trong các năm 1856 - 1857. Ông hiến một phần ruộng đất làm ruộng "binh điền" để trợ cấp cho các gia đình có con em đi tiễu phỉ ở biên giới, ven biển. ông còn cúng ruộng "học điền" để khuyến khích việc học, in sách phát không cho học trò.

Ông có uy tín để dàn xếp những vụ xung đột giữa tín đồ đạo Thiên chúa gây ra với tín đồ đạo Phật ở tỉnh Nam Định, do bọn gián điệp đội lốt cha cố gây ra hòng làm rối loạn hậu phương của ta mở đường cho giặc Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ.

Ông học giỏi, nhưng thi cử lận đận, mãi đến năm 1863, khi ông đã 44 tuổi mới thi đỗ giám sinh (ngang cử nhân). Hai năm sau, năm 1865, Nguyễn Mậu Kiến mới thi đỗ khoa Hoành từ là khoa thi đặc biệt thời Tự Đức lấy ngang với đỗ Hoàng giáp để kén chọn nhân tài. Niên hiệu Tự Đức thứ 20, ông được cử làm Lang trung bộ Lại kiêm bang biện Nam Định. Sau làm đến Quang lộc Tự khanh.

Nguyễn Mậu Kiến từ chối không ra làm quan, mà trở về quê huy động nhân công đào sông tiêu nước phát triển nông nghiệp ở huyện Tiền Hải, nơi Nguyễn Công Trứ tổ chức khai hoang vào các năm 1824, 1828. Sau nhiều lần Triều đình triệu, năm 1867, ông nhận chức Lại bộ Lang trung, sung chức bang hiện hai tỉnh Nam Định và Hải Dương. Năm 1868, giặc Cờ vàng do Hoàng Sùng Anh từ nhà Thanh tràn sang cướp phá Cao Bằng, Lạng Sơn, Triều đình cử ông làm Bang biện quân thứ Lạng Sơn cùng với Đề đốc Phan Bân, Tán tương Mai Quý đi đánh dẹp Trước nguy cơ giặc Pháp đem quân đánh chiếm Bắc Kỳ, năm 1871, Nguyễn Mậu Kiến đã cùng với hai con là Nguyễn Hữu Cương và Nguyễn Hữu Bản chiêu mộ quân đánh Pháp. Đúng như phán đoán của ông, sáng ngày 20/4/1873, quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội.

Ngày 02 tháng 10 năm Quý Dậu (10/12/1873), tàu chiến Pháp từ sông Vị Hoàng bắn đại bác vào thành Nam Định. Thành Nam Định thất thủ, Nguyễn Mậu Kiến cùng hai con lui quân về Thái Bình để bảo toàn lực lượng rồi bắt tay xây dựng căn cứ kháng chiến tại Kiến Xương. Nghĩa quân do ông chỉ huy lên tới 2.000 người.

Lo sợ trước lực lượng kháng chiến ở Thái Bình do Nguyễn Mậu Kiến là người chỉ huy tối cao, Garnier từ Nam Định theo sông Hồng xuống cửa Vân Môn đánh phá Động Trung. Nghĩa quân chặn đánh chúng dọc tuyến sông Hồng, khiến cho chúng thiệt hại nặng nề cả về quân số và vũ khí.

Nhưng với sức mạnh của tàu chiến, vũ khí chúng đã tràn được vào Động Trung, đốt nhà của Nguyễn Mậu Kiến và nhiều kho lương song Nguyễn Mậu Kiến đã chỉ huy nghĩa quân chiếm lại đồn Chân Định, xây dựng lại căn cứ, duy trì cuộc chiến đấu. Nghĩa quân luôn luôn tập kích các đồn binh Pháp, nên chúng không dám đóng đồn ở Thái Bình.

Nguyễn Mậu Kiến cũng như phần đông các bạn bè của ông kháng lệnh, vẫn duy trì quân đội, tiếp tục cuộc chiến trừng trị những tên từng theo giặc để bảo vệ độc lập dân tộc. Tự Đức đã xuống chiếu tước hết chức tước, phẩm hàm rồi bắt sung vào làm lính ở quân thứ Thái Nguyên - Tuyên Quang.

Nhưng không may trong lúc Nguyễn Mậu Kiến cùng các đồng chí của mình tích cực hoạt động trên nhiều phương diện để phòng thủ Bắc Kỳ thì bệnh sốt rét ác tính tái phát và ông đã hy sinh tại quân doanh Đồn Vàng, Hưng Hoá ( nay là thị trấn huyện Thanh Sơn, Phú Thọ).



LÊ VĂN TỐN

Lê văn Tốn sinh năm 1852, quê ở thôn Kinh Truật, nay thuộc xã Liên Sơn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi. Noi gương Tam Đăng Phạm Văn Nghị, ông bỏ học văn theo học võ và tìm đọc các sách binh thư với mong muốn trở thành một chiến sĩ thực thụ trên mặt trận chống Pháp.

Năm 1873 quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình, Lê Văn Tốn đã chiêu mộ nghĩa quân xuống An Hoà tham gia nghĩa quân Phạm Văn Nghị đánh Pháp. Ông chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc được phong chức Bang biện. Tháng 2/1874, Triều đình Huế ký hoà ước với Pháp buộc thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa giải tán nghĩa quân, ông trở về quê. Ông biết dã tâm của bọn Pháp là thôn tính cả nước Việt Nam, trước sau chúng sẽ đưa quân ra đánh Bắc Kỳ lần nữa, nên không ngừng luyện tập võ nghệ và liên kết với hào kiệt trong vùng để khi đất nước có biến thì chiêu mộ quân đánh Pháp.

Năm 1882 quân pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai rồi đem quân đi đánh các phủ huyện (nay thuộc tỉnh Hà Nam ) Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình. Ông cùng các chiến hữu chiêu mộ quân đột kích quân Pháp và đánh bọn “giáo dũng” làm tay sai cho Pháp đi đánh chiếm các phủ huyện.

Sau trận 19/5/1883 tiêu diệt Henri Riviere ở Cầu Giấy, Đinh Công Tráng về Hà Nam, Nan Định phát động phong trào khởi nghĩa đánh Pháp thì Lê Văn Tốn cùng với tiến sĩ Ngự sử Lê Văn Mai lập tức đưa quân bản bộ đến gia nhập nghĩa quân Đinh Công Tráng.

Ông đã giúp Đinh Công Tráng trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân quyên góp lương thực nuôi quân Lê Văn Tốn cũng là nhà quân sự đa mưu, túc kế, đã cùng tiến sĩ, ngự sử Lê Văn Mai, Cai Hành bầy mưu tính kế cho từng trận đánh, khiến cho nghĩa quân ra quân trận nào là thắng ròn rã trận đó như các trận ở Trang, Thông, Bưởi.

Trong trận nghĩa quân tiến đánh Kẻ Non là huyện lỵ Thanh Liêm do lực lượng quân Pháp mạnh lại có bọn "giáo dũng" tiếp sức Lê Văn Tốn bị quân Pháp bắt đưa về giam giữ ở Hà Nội. Trong thời gian ở tù, Lê Văn Tốn đã chiến thắng những lời dụ dỗ được ông, giặc Pháp đã dùng mọi cực hình tra tấn, song ông vẫn hiên ngang bất khuất, trơ như đá, vững như đồng ở nơi tù ngục ông đã làm bài thơ tỏ rõ ý chí của mình, của nghĩa quân:

Ở TÙ

Biết mấy năm nay tới tỉnh Ninh
Quan quân đón rước thật là vinh
Sớm trưa đủng đỉnh gông trên cổ.
Lính tráng canh giờ giáo cửa dinh
Tiêu tướng ngày xưa không khác tớ(*)
Chu Vương thưở nọ cũng như mình
Rồi ra mới hết thân là quý
Gặp gỡ tao mày thực thánh minh.

(*) Tức Tiêu Hà, thừa tướng của Hán Cao tổ, bị Cao tổ bắt tù. Văn Vương nhà Chu bị vua Trụ bắt đi tù).

Ngày 17/12/1886, giặc Pháp xử chém ông ở Hà Nội. Trên đường ra Pháp trường ông ung dung đọc bài thơ.

ĐỌC LÚC RA PHÁP TRƯỜNG

Ai ơi chớ nghĩ tớ là thường,
Nào đã công thần, đã bá vương.
Lính tráng đón đưa năm bảy lũ,
Tiếng tăm lững lẫy chín mười phương.
Lầu rồng, gác tía xênh xang ở.
Thẻ ngọc, đai vàng đủng đỉnh mang.
Thiên hạ ai ai là chẳng sợ,
Theo xem nô nức thật đầy đường.



PHẠM THẬN DUẬT

Phạm Thận Duật sinh năm 1825 , quê ở làng Yên Mô Thượng, tổng Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình - nay là xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Khoa Canh Tuất, triều Tự Đức (1850), Phạm Thận Duật 26 tuổi đỗ cử nhân trường Nam Định.

Năm Tân Hợi (1851) Phạm Thận Duật vào kinh thi Hội, chỉ lọt tam trường, không trúng cách.

Năm Nhâm Tý (1852) ông được cử làm giáo thụ phủ Đoan Hùng. (Khi đó Đoan Hùng còn thuộc tỉnh Sơn Tây).

Năm Ất Mão (1855), ông nhận chức Tri châu Tuần Giáo tỉnh Hưng Hóa, được thăng Tòng lục phẩm.

Năm Bính Thìn (1856) ông kiêm nhiệm Tri châu Luân Châu. Trong thời gian ở Tuần Giáo, ông soạn sách “Hưng Hóa ký lược”. Nhận xét về cuốn Hưng Hóa ký lược, Phó giáo sư Phan Văn Các, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong bài "Hưng Hóa ký lược - cuốn địa phương chí đặc sắc của Phạm Thận Duật” in trong tập "Phạm Thận Duật toàn tập” kết luận như sau: "Có thể nói với Hưng Hóa ký lược , Phạm Thận Duật đã thể hiện một tư duy khoa học sắc sảo, vượt ra ngoài khuôn khổ đào tạo kiểu từ chương khoa cử đương thời, vươn tới chiếm lĩnh những tri thức bách khoa và thực tiễn để có cống hiên đích thực cho khoa học và cho đất nước”.

Năm Đinh Tỵ (1857) ông được thăng Tri phủ tòng ngũ phẩm, đảm nhiệm tri huyện Quế Dương và Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh.

Năm Mậu Ngọ (1858), ông giữ chức Tri phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh kiêm Tri huyện Quế Dương. Với cương vị Tri phủ Lạng Giang, ông đã phải đối phó với bọn phỉ quấy rối ở thượng du.

Từ năm 1866, Phạm Thận Duật được điều lên tỉnh làm Bang biện, kiêm đồn điền sứ. Đến tháng 10 năm 1867, ông đã thành lập ba sở đồn điền ở Lục Ngạn, Hiệp Hòa, Kim Anh với quy mô khá lớn. Tiếc thay chỉ một năm sau, Tự Đức ra lệnh bãi bỏ ba đồn điền này. Phạm Thận Duật ban bố nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh, song từ năm 1867 trở đi giặc cướp liên miên, Phạm Thận Duật được thăng Án sát. Do có công lao đánh phỉ, năm 1870, ông được thăng Bố chính Bắc Ninh. Đúng lúc đó Thanh phỉ do Ngô Côn cầm đầu từ Cao Bằng, Lạng Sơn tràn xuống đánh phá Bắc Ninh. Tiễu phủ Ông Ích Khiêm và Bố chính Phạm Thận Duật đã sử dụng mưu lược. Ông Ích Khiêm giả núng thế chạy xuôi, Phạm Thận Duật giữ thành Bắc Ninh bằng một đạo cô quân. Ngô Côn vây thành quyết chiếm thành, Phạm Thận Duật cố giữ, tiêu hao giặc. Ông Ích Khiêm được bổ sung lực lượng, bất ngờ đưa viện binh quay lại từ ngoài đánh vào. Phạm Thận Duật dẫn quân từ trong đánh ra, ép giặc vào giữa. Ngô Côn bị trúng đạn, chết dưới chân thành.

Năm 1871, tên Tịch, thủ hạ của Ngô Côn tự xưng là Đại nguyên soái lại nổi lên ở Bắc Ninh, bè lũ tới trên 4000 tên, Phạm Thận Duật hợp sức với quân triều đình đánh tan. Ông được thưởng quân công một cấp. Phạm Thận Duật đang làm Bố chính tỉnh Bắc Ninh được triều đình cử làm Tuần phủ Hà Nội kiêm chánh đốc thông bảo cục (Sở đúc tiền), kiêm tri phòng khẩu sự vụ (phụ trách những việc khẩn yếu). Công việc của Phạm Thận Duật là bố trí lại bộ máy cai trị của tỉnh Hà Nội đã bị tan tác sau khi Pháp đánh chiếm. Trong thời kỳ Pháp chiếm đóng, nhiều lưu manh và giáo dân ỷ vào giặc Pháp đi cướp bóc của cải, chỉ điểm cho Pháp bắt những người yêu nước, nên tình hình an ninh không bảo đảm, mâu thuẫn giữa giáo dân Thiên chúa với những người theo đạo Phật nặng nề. Phạm Thận Duật phải mất khá nhiều thời gian để giải quyết việc này.

Phạm Thận Duật thuộc phe chủ chiến, nên trừng trị thẳng tay bọn cộng tác với Pháp hạ thành Hà Nội và đánh phá nhiều nơi khác, bọn ngụy quyền do Pháp đặt ra, nay bị Pháp bỏ rơi vẫn quấy rối, nhũng nhiễu dân chúng, gây ra nhiều vụ mất an ninh.

Trong bộ "Châu bản triều Nguyễn” còn lại đến nay còn bản tấu đứng tên Tuần phủ Hà Nội Phạm Thận Duật về việc: "Sau khi quân Pháp rút, quan quân Hà Nội phải đánh dẹp một toán phản loạn 500 người, cầm đầu là bọn đã theo Tây tấn công phủ Lý Nhân (thuộc tỉnh Hà Nội). Những tên cầm đầu đã bị hành quyết làm răn”. (Bản chính công văn hành chính của triều Nguyễn, trong đó có lời "châu phê" (phê sau) của nhà vua cho nên có tên như vậy. Nhóm biên soạn "Phạm Thận Duật toàn tập" căn cứ vào bản dịch tóm tắt các chân bản thời Tự Đức hiện còn lưu giữ ở Viện Hán - Nôm - Hà Nội).

Phạm Thận Duật thẳng tay trừng trị bọn Việt gian giáo dân đạo Thiên chúa đã tiếp tay cho giặc Pháp, phản bội Tổ quốc, mặc dù trong điều 2 Quy ước ký kết giữa Nguyễn Văn Tường với Pháp, đại diện Soái phủ Sài Gòn về những sự kiện vừa xảy ra ở Bắc Kỳ ký ngày 5 tháng 1 năm 1874, ghi: “Triều đình Huế phải ra ngay bản Tuyên bố ân xá tất cả những người vừa qua đã cộng tác với Pháp”.

Phạm Thận Duật bổ nhiệm các quan chức ở tỉnh Hà Nội, ở các phủ huyện là những người yêu nước, có công chống Pháp, bảo vệ dân trong thời gian Pháp đánh chiếm Hà Nội, xử tội bọn quan chức do Pháp dựng lên, cách chức, hạ cấp bậc các quan chức khi quân Pháp đánh, bỏ chạy. Ông cũng dâng sớ về triều phong thưởng cho những người không kể là quan hay lính nhưng có tinh thần dũng cảm chiến đấu. Ông còn xuất công quỹ trợ cấp cho vợ con những binh sĩ hy sinh khi bảo vệ thành Hà Nội và các lị sở khác. Vì vậy ông đã nhanh chóng ổn định bộ máy cai trị ở tỉnh và các phủ huyện đã bị tan tác khi Pháp hạ thành Hà Nội và các phủ huyện (gồm Hà Nội và Hà Nam) và kiên quyết trừng trị những toán phản loạn đã từng theo Pháp tấn công thành Hà Nội và các phủ huyện.

Phạm Thận Duật không phải chiến đấu trực tiếp với giặc Pháp như Nguyễn Tri Phương, song từ quan văn, ông đã phải làm võ tướng đánh dẹp Thanh phỉ và bọn giặc Tạ Văn Phụng, tay sai của giặc Pháp đánh phá các tỉnh ở Bắc Kỳ, làm do thám cho giặc Pháp, chia rẽ giáo, lương, chuẩn bị cho giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai.

Cuối năm 1875, Phạm Thận Duật được cử làm Hộ lý tổng đốc Ninh - Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên), giữa năm 1876 ông bị ốm nặng phải nghỉ điều trị, sau đó về kinh làm Tham tri bộ Lại, kiêm phó Đô ngự sử Viện đô sát.

Nhận chức vụ ở kinh chưa được 2 tháng, triều đình cử Phạm Thận Duật trở lại Bắc với chức vụ "Khâm sai kinh lý hà đê sứ” chỉ huy việc trị thủy vùng tả ngạn sông Hồng.

Quan điểm của ông và của Hoàng Diệu là không bỏ đê mà đắp ngay đê bao lớn ở những nơi đê đã bị vỡ như ở Văn Giang; đắp đê ngăn mặn; khơi thông dòng chảy. Ông cũng đề xuất chuyển dần chân mùa sang chân chiêm theo lối hai bát úp một, lấy lợi phù sa bồi đắp để bù lại.

Với chức vụ khâm sai Hà đê sứ (và cả khi còn giữ chức thự Tuần phủ Bắc Ninh) ông đã gửi tới vua Tự Đức 19 bản tấu về công tác đê điều (từ tháng 12 năm 1875 đến tháng 7 năm 1878).

Cuối thu 1878, Phạm Thận Duật trở về kinh được thăng Thượng thư bộ Hình, sung Phó tổng tài Quốc sử quán, kiêm quản Quốc tử giám. Năm 1879, ông được cử làm đại thần Viện cơ mật.

Giữa năm 1879, mẹ ông mất, ông về cư tang, vua Tự Đức ban cho ông 50 quan tiền làm đám. Ngay sau đó, ông có lệnh triệu về Kinh để cùng triều đình lo toan công việc. Ông dâng sớ xin lưu lại ít lâu thì bị vua Tự Đức quở, ông đành phải vào Kinh. Trên đường ông thấy dân tình xáo xác vì vụ mùa vừa mất, lòng thương dân của ông xáo động. Vừa vào đến kinh, ông đã dâng sớ xin triều đình tư sức cho các quan tỉnh đốc thúc dân chúng trồng thêm rau, củ, ngũ cốc để cứu đói. Vua Tự Đức chấp nhận và cho thực thi.

Với cương vị Phó tổng tài quốc sử quán, ông đã kiểm duyệt lại bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”. Ông đã đầu tư nhiều công sức cho công trình trên, đến đầu năm 1882 ông đã làm xong, xin cho chép lại sạch sẽ và đưa khắc in.

Trong thời gian làm Thượng thư bộ Hình ông đã có nhiều kiến nghị về phòng thủ đất nước.

Năm 1882, Phạm Thận Duật được cử làm Khâm sai chánh sứ, Nguyễn Thuật làm phó sứ sang Thiên Tân. Song giữa lúc ấy thì Phạm Thận Duật nhận được tin từ Bắc Kỳ đưa sang là Henri Rivière đánh chiếm tỉnh thành Nam Định và vua Tự Đức ốm, chết ngày 19 tháng 7 năm 1883. Tình hình phế lập của triều đình Huế rối ren, quân Pháp tấn công cửa Thuận An. Triều đình Huế phải ký Hiệp ước Harmand với nội dung là triều đình Huế chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Trung Kỳ, Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp.

Phạm Thận Duật đành phải trở về nước trên đường về bị ốm phải nằm lại điều trị, tính ra kéo dài một năm.

Bất chấp Hiệp ước Hannand, nhiều sĩ phu ở Bắc Kỳ phối hợp với Lưu Vĩnh Phúc, Đường Cảnh Tùng tiếp tục đánh Pháp.

Vua Hiệp Hòa tỏ ra bạc nhược, thân Pháp nên Viện cơ mật đầu độc chết, đưa Kiến Phúc lên ngôi (trong 4 ngày có 3 vua).

Phạm Thận Duật chuyển từ Thượng thư bộ Hình sang Thượng thư bộ Hộ và kiêm nhiệm cả Công bộ Tả tham tri (trong đó có việc xây dựng thành lũy, đồn binh), ông vẫn có chân trong Viện cơ mật. Vua Kiến Phúc còn nhỏ tuổi, nên quyền hành đều thuộc về Viện cơ mật, ông là nhân vật thứ ba sau Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Với cương vị Thượng thư bộ Hộ, ông đã xử lý nghiêm khắc nhiều vụ tham nhũng tiền và thóc như ở Thanh Hóa, có hàng chục kẻ bị chém, hàng trăm quan tỉnh, phủ, huyện bị mất chức, giáng, phạt.

Ngày 25/7/1885, Phạm Thận Duật được thăng Vinh Lộc đại phu, chánh thất phẩm nhận nhiệm vụ khâm sai đại thần ra Bắc chiêu tập nghĩa sĩ Cần vương, tổ chức kháng chiến, xây dựng phong trào Cần vương ở Bắc Kỳ. Hai bà vợ ông được phong hàm tòng nhất phẩm phu nhân. Ngày 26 tháng 7/1885, xa giá vua theo đường núi Nghệ Tĩnh để ra Bắc. Phạm Thận Duật cùng hai con là Phạm Luyện, Phạm Cầu và đoàn tùy tùng quay ra Quảng Trị để theo đường biển ra Bắc trước. Ông bị ốm phải ở lại thôn Hà Trung, huyện Triệu Phong điều trị. Ngày 29 tháng 7 năm 1885, ông trên đường ra bến đò vừa đến Quán Dốc thuộc thôn Hà Trung thì bị Tri phủ Triệu Phong là Tôn Thất Thị đưa lính đến bắt cùng hai con là Phạm Luyện, Phạm Cầu và cả đoàn tùy tùng. Tôn Thất Thi nộp ông cho Pháp. Ngày 31/7/1885, quân Pháp đưa ông và đoàn tùy tùng về giam ở Thương Bạc. Ngày 1/9 ông bị quân Pháp đưa xuống tầu ra giam ở nhà tù Côn Đảo. Ngày 23/11/1885, Pháp đưa ông cùng một số người nữa đi đày ở quần đảo Tahiti. Ông đang bị ốm nặng, nên ngày 29/11/1885, ông mất ở trên tầu thuộc vùng biển Malaixia. Các bạn tù thủy táng ông ở dưới biển.

Mãi đến năm 1995, nhân kỷ niệm 110 năm ngày mất của danh nhân Phạm Thận Duật, UBND tỉnh Ninh Bình, Viện Sử học Việt Nam, hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã long trọng tổ chức hội thảo về thân thế, sự nghiệp Phạm Thận Duật, đã dựng nhà bia tưởng niệm ông tại Yên Mô Thượng. Các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới, Đại đoàn kết, Tin tức buổi chiều, Văn hóa và thể thao, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam... đều có bài viết, bài nói về thân thế, sự nghiệp của Phạm Thận Duật; Đài truyền hình Việt Nam giới thiệu tập phim tài liệu: "Phạm Thận Duật - cuộc đời và sự nghiệp”. Tháng 11 năm 2000, Trung tâm Unesco thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam và Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đã xuất bản cuốn "Phạm Thận Duật toàn tập”. Cuốn sách đã nêu rõ thân thế sự và sự nghiệp trên chính trường, chiến đấu cùng các trước tác của ông.



TẠ HIỆN

Tạ Hiện còn có tên là Tạ Quang Hiện, sinh năm Tân Sửu (1841), người làng Quang Lang, tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình, nay là xã Quang Lang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tạ Hiện từ khi nhỏ ưa hoạt động, giỏi võ nghệ, bơi lặn giỏi, đỗ tú tài võ. Ông đã giữ chức Đốc binh quân vụ tỉnh Tuyên Quang.

Tháng 9/1872, Tạ Hiện chỉ huy một số thuyền nhỏ của Nghệ An đánh tan 30 chiến thuyền lớn của bọn hải tặc Trung Quốc tại Hàm Giang (Quảng Yên). Sau chiến thắng này, Tạ Hiện được phong Phó quản cơ.

Ngày 31/12/1873, quân Pháp trao trả tỉnh thành Hải Dương, triều đình cử Tạ Hiện làm Lãnh binh, (Nguyễn Huy Tự làm Hộ đốc, Nguyễn Hữu Đỗ làm Bố chính).

Tháng 10/1879, thành lập đồn Cối Sơn, tỉnh Quảng Yên, Tạ Hiện được cử chỉ huy đồn. Ông chỉ huy quân lính đánh dẹp bọn phỉ Tàu, nên vùng này được yên lành.

Năm 1883, triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi nước ta phải chịu sự bảo hộ của Pháp.

Tháng 8/1882, Tạ Hiện được thăng Chưởng vệ, lãnh Đề đốc Bắc Ninh. Tháng 2/1883, triều đình giao cho Tạ Hiện chỉ huy đội Hùng nhuệ thay Thống chế Hoàng Văn Thụ bị giáng chức.

Ngày 27/3/1883, thành Nam Định thất thủ, Tạ Hiện xin triều đình đổi về giữ chức Đề đốc Nam Định để khôi phục lại tỉnh thành.

Tháng 9/1883, triều đình ra lệnh triệt binh, Tạ Hiện không chịu, kiên quyết ở lại cùng nhân dân kháng chiến. Ông phái người nộp trả ấn Đề đốc, rồi cùng một số đồng chí, lui về phủ Kiến Xương (Nam Định) phát lệnh tố cáo giặc Pháp xâm lược, chiêu mộ hương dũng đánh Pháp nhiều trận kịch liệt. Ông còn mở rộng địa bàn hoạt động xây dựng căn cứ chống Pháp ở các huyện Hưng Nhân và huyện Thán Khê, Duyên Hà khi đó thuộc tỉnh Hưng Yên. Ông cũng phối hợp với Đổng quân vụ Đinh Gia Quế thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đánh quân Pháp nhiều trận lớn trên hai bờ Tả ngạn và Hữu ngạn sông Luộc.

Cuối năm 1883, Tạ Hiện tập trung tới 4.000-5.000 nghĩa quân, đánh chiếm lại tỉnh thành. Họ đã làm chủ vùng nông thôn: thu thuế, tuyển lính, xử án...

Trong những chiến công nghĩa quân do Tạ Hiện chỉ huy trên các chiến trường ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, có những trận đánh lớn vào đồn giặc ở Trà Lý (Thái Bình), đền Trần (Nam Định) trận đánh úp đồn Quỳnh Côi (Thái Bình) gây cho địch nhiều thương vong và thu được nhiều vũ khí. Nghĩa quân dựa vào dân thực hiện chiến tranh du kích, thiên biến vạn hóa, thoắt ẩn, thoắt hiện. giặc Pháp tung quân đi càn quét lại không thấy nhưng lại thường bị đánh úp, bị phục kích. Có trận nghĩa quân mặc quần áo lính khố xanh, công khai hành quân ban ngày.

Lực lượng nghĩa quân Tạ Hiện ngày càng đông, mạnh mẽ, được huấn luyện tốt, có ý thức căm thù giặc và ý thức kỷ luật cao.

Tạ Hiện đã phối hợp với nhiều thủ lĩnh nghĩa quân như Đinh Gia Quế ở Bãi Sậy trong các năm 1883, 1884. Bang Tốn và một số tướng lĩnh của ông đã sát cánh chiến đấu với nghĩa quân Bãi Sậy. Ông cũng phối hợp với Nguyễn Thiện Thuật, Lã Xuân Oai, Phạm Huy Quang, Cai Kinh, Lưu Vĩnh Phúc, đánh quân Pháp ở cầu Quan Âm (Bắc Lệ, Lạng Sơn) ngày 24/5/1884.

Đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Phạm Thận Duật tấn công đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ ở kinh đô Huế. Bị quân Pháp phản công, Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị phát động phong trào Cần vương, Tạ Hiện đã nhiệt liệt hưởng ứng, ông được vua Hàm Nghi thăng thự Đô thống. Từ đó nghĩa quân của ông hoạt động càng mạnh, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất.

Từ tháng 10 năm 1886, nghĩa quân Tạ Hiện hoạt động mạnh trở lại. Nghĩa quân đánh úp đền Quỳnh Côi. Nghĩa quân do Bang Tốn chỉ huy và nghĩa quân do sư So ở chùa Thiền Quang chiếm lại được phủ Kiến Xương, tấn công huyện Trực Định (Kiến Xương). Nghĩa quân còn đánh đồn Thanh Quan, đồn Vụ Bản và nhiều trận khác. Daufès trong cuốn La Garde indigène de 1’Indochine de sa création à nos four, tập I, Toukin, Avignou 1933 đã phải thừa nhận: "Đội lính khố xanh đã xung đột nhiều trận với các đội nghĩa quân của Tán Thuật, Lãnh Giang, Tổng Kinh, Đốc Sung, Đề đốc Tạ Hiện, Đốc Tít… chỉ huy càn quét, bình định vùng giữa sông Luộc và sông Trà Lý, đột phá làng mạc, tàn sát nhân dân. Nghĩa quân tránh những trận đánh lớn, chỉ lẻ tẻ chiến đấu. Nghĩa quân của ông thường đào hố ngụy trang dụ địch đến là nhẩy ra bắt gọn chúng, nên chúng gọi là "giặc vồ”.

Về cái chết của Tạ Hiện, có nhiều tư liệu khác nhau, nhưng đáng tin là cuốn “Lịch sử quân sự Đông Dương” thì đầu năm 1887, Tạ Hiện bị địch bắt và bị giết vào đêm mùng 2 tháng 2 năm 1887 ở Bình Bắc, Phả Lại, Đông Triều. Các cụ già ở quê Tạ Hiện cũng xác định ông bị giặc Pháp bắt và giết ở quê vợ tại Đông Triều, hiện ở đó còn đền thờ ông.

Ngoài võ công lừng lẫy, Tạ Hiện còn là nhà thơ, nay còn lại bài "Cái nợ tang bồng”.

Cái nợ tang bồng tí tẻo teo,
Nay đòi mai hỏi tiếng ong eo.
Nay ta quyết kéo trời Nam tại
Kéo để giang sơn đổ lộn phèo

(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, trang 214 nhóm Chu Thiên, Văn học, Hà Nội, 1970)



PHẠM HUY QUANG

Phạm Huy Quang sinh năm 1847 tại làng Phù Lưu, huyện Đông Quan (nay là xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình).

Ngày 1 tháng 7 năm 1868, Phạm Huy Quang đậu cử nhân đứng hàng thứ năm. Đầu năm Tự Đức thứ 22 (1869) có dụ ở kinh đô triệu ông vào nhận chức Hàn lâm Cung phụng, tập sự ở viện Đô sát. Sau đó ít lâu Phạm Huy Quang xin chuyển về Đông đạo ngự sử Bắc Kỳ với dụng ý ngăn chặn bớt sự tham nhũng của quan lại. Năm Tự Đức thứ 25 (1872) ông về Hải Dương thị sát với Tổng đốc Phạm Phú Thứ. Ông kiểm tra các tỉnh Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, một phần Nam Định. Đây là vựa lúa của đồng bằng sông Hồng. Nhà vua đã ra điều lệnh cho lập xã thương và nghĩa thương để cứu đói cho dân khi mất mùa. Ông cùng Phạm Phú Thứ điều tra thì số thóc trên bị quan lại, tổng lý vay chi tiêu vào mục đích khác. Ông đã tìm đủ mọi chứng cứ, bắt những kẻ tham nhũng phải bồi thường cho các nhà kho. Ông đem thóc đó phân phát cho dân bị đói. Năm 1874, Phạm Huy Quang được thăng Hàn lâm Điển bạ kiêm Giám sát Ngự sử Bắc Ninh.

Tới Bắc Ninh, Phạm Huy Quang gặp lại bạn cũ là cử nhân Ngô Quang Huy, đốc học Bắc Ninh, phó bảng Lã Xuân Oai, người làng Thượng Đồng, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định ( nay là xã Yên Tiến, huyện Ý Yên) khi đó đang ở Bắc Ninh, Phạm Thận Duật, Bố chính tỉnh Bắc Ninh. Các ông trở thành bạn cùng chí hướng, thấy rõ Tự Đức là một ông vua mang nặng tư tưởng đầu hàng giặc Pháp, phải tổ chức lực lượng kháng chiến chống Pháp nên phân công Lã Xuân Oai liên lạc với quân Thanh để mua súng bắn nhanh do phương Tây sản xuất. Còn ông (Phạm Huy Quang), cùng với Ngô Quang Huy, Phạm Thận Duật, giúp Nguyễn Cao người làng Cách Bi huyện Quế Dương thành lập đội nghĩa dũng Bắc Ninh.

Tháng 11/1873, quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình để ép triều đình Huế nhượng lục tỉnh Nam Kỳ cho giặc Pháp.

Mặc dù triều đình đầu hàng giặc, phe chủ chiến vẫn quyết tâm đánh Pháp. Ngày 3/12/1873, quân triều đình dưới sự chỉ huy của Tán tương Trương Quang Đản cùng nghĩa quân Nguyễn Cao, Phạm Huy Quang tập kích quân Pháp chiếm lại phủ Thuận Thành.

Chán cảnh Triều đình đầu hàng giặc, mùa xuân năm 1875, Huy Quang xin từ quan mở trường dạy học. Song với lòng yêu nước thiết tha, ông lại bỏ hết gia tư, điền sản cho việc mộ quân, thiết lập các đồn mới để liên kết với các cánh quân khác cùng khởi nghĩa.

Cuối năm 1888, Phạm Huy Quang được tin nghĩa quân chuẩn bị đánh ra Nam Định đã từ Phủ Gạch về đồn Đọ bàn kế hoạch phối hợp tác chiến. Song do Khán Quyết đã chỉ điểm, quân Pháp biết rõ hành trình của Phạm Huy Quang, chúng cho Khán Quyết và hai tên lính tập giả làm phu khiêng cáng vào làng Đọ chờ sẵn. Khi Phạm Huy Quang bàn việc ở đồn Đọ xong lên cáng trở về đồn Phủ Gạch để bàn kế hoạch đưa quân đi đánh phối hợp. Khán Quyết và hai tên phu cáng ra khỏi làng Đọ chúng không đưa ông về Phủ Gạch mà về đồn Châu Giang. Ông đòi xuống, chúng ra hiệu cho Bang Văn chỉ huy một toán lính bám theo sau ập đến bắt ông giải về đồn Châu Giang. Quân Pháp tra tấn ông không moi được tin tức gì, ngay sáng hôm sau chúng đưa ông ra bãi bắn chết.

Phạm Huy Quang hy sinh song phong trào kháng chiến chống Pháp còn duy trì tới năm 1892 mới tan rã. (Danh nhân Thái Bình - Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1 - Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Nxb văn học, Hà Nội. 1977).


Chân Tâm An

Đọc 1316 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp

( 22/11/2014 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 16/11/2014 ) « Các thiên tài thế giới thời còn đi học

( 08/11/2014 ) « Bác sĩ góc Việt được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào ủy ban cố vấn

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top