• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


NGUYỄN CAO

Nguyễn Cao, sinh năm 1840 tại làng Cách Bi huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Cao lúc nhỏ được gửi đến ở nhà ông tú tài Nguyễn Gia Giao ở xã Liễu Ngạn, phủ Thuận Thành, sau theo học thày Phạm Văn Nghị ở Tam Đăng. Năm Đinh Mão (1867) Tự Đức thứ 20, ông đỗ Giải nguyên (đỗ đầu Cử nhân). Ông không ra làm quan ở mà nhà dạy học.

Tháng 11/1873, quân Pháp từ Hà Nội đánh chiếm Gia Lâm, Siêu Loại, Nguyễn Cao chiêu mộ được hơn 1000 nghĩa dũng cùng Bố chính Phạm Thận Duật đánh quân Pháp. Ngày 4/12/1873, nghĩa quân của ông tấn công quân Pháp ở Gia Lâm, Thuận Thành, diệt nhiều giặc Pháp, bắt sống 150 ngụy quân, giải phóng một vùng rộng lớn. Ngày 15/3/1874, Triều đình Huế ký với Pháp Hiệp ước "Hòa bình và liên minh” có lợi cho Pháp. Sau khi Hòa ước ký, Nguyễn Cao buộc phải giải tán nghĩa quân.

Ông có công cùng Phạm Thận Duật đánh dẹp giặc nên triều đình ép ông làm Tri huyện Yên Dũng rồi Tri huyện Lạng Giang. Ông làm quan thanh liêm, trừng trị bọn trộm cướp, quan lại nhũng nhiễu dân, tổ chức cho dân khai hoang, phục hóa, cải thiện đời sống. Triều đình thăng ông chức Bố chính Thái Nguyên rồi đi kinh lý khẩn hoang ở Nhã Nam.

Ngày 25/4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội, đến 10 giờ cùng ngày, thành vỡ, Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử. Nguyễn Cao đang làm Tán lý quân vụ tỉnh Bắc Ninh đã chăm lo, củng cố thành Tỉnh Đạo. Ông lại đem quân về Hà Nội cùng các cánh quân khác bao vây Hà Nội. Ngày 27/3/1883 Nguyễn Cao đã cùng nhiều quan lại khác chỉ huy 4000 quân Tứ Tổng đột nhập vào phố Hàng Đậu tấn công Cửa Đông, buộc quân Pháp phải rút vào trong thành cố thủ.

Đêm 11/3/1883, Nguyễn Cao đóng quân ở Gia Lâm, cho quân nã đại bác vào đồn Đồn Thủy, vị trí đóng quân của quân Pháp. Ngày 15/5/1883, quân Pháp đổ bộ sang Gia Lâm, Nguyễn Cao dàn quân ra đánh. Hai bên kịch chiến đến tận ngày hôm sau. Ngày 16/3/1883 Nguyễn Cao bị thương nặng ở bụng. Sau khi vết thương lành, ông được cử giữ chức Tán lý quân vụ Bắc Kỳ.

Triều đình Huế nhu nhược liên tiếp nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi của quốc gia, rút hết quân đội ở các vị trí chiến lược quan trọng, ngăn cấm nhân dân vũ trang đánh Pháp. Mùa Xuân năm 1884, Bắc Ninh trở thành chiến trường nóng bỏng. Ngay từ những ngày đầu tiên Nguyễn Cao đã cùng với Hoàng Văn Hòe đã đối phó với quân Pháp. Các ông phối hợp với nghĩa quân Ba Báo liên tục tấn công quân Pháp ở Phả Lại và sông Cầu. Khi thành Bắc Ninh mất, Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hòe cùng nhiều quan lại, sĩ phu rút về thành Tỉnh Đạo. Đầu năm 1884 Nguyễn Cao cùng Ngô Quang Huy, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Văn Hòe, Dương Khải thành lập "Đại nghĩa đoàn” hay còn gọi là “Tam tỉnh nghĩa quân” tiếp tục đánh Pháp. Đại nghĩa đoàn có hơn 5000 quân tuyển mộ từ các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương đánh Pháp. Trong số tướng chỉ huy có Đội Văn tức Vương Văn Vang người thôn Thuận An xã Chạm Lộ, tổng Tam Á, huyện Thuận Thành, nay thuộc xã Chạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Quang tức Nguyễn Trọng Đạo và tú tài Nguyễn Trọng Huyên là hai anh em họ Nguyễn quê ở làng Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, nay thuộc xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia.

Nghĩa quân Đại Nghĩa đoàn dựng đại đồn trong cánh rừng Báng ở làng Đình Bảng, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, chia quân đóng giữ các vị trí sung yếu uy hiếp quân Pháp ở lưu vực sông Cà Lồ (tỉnh Phúc Yên cũ). Các ông xây dựng căn cứ ở núi Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Bắc Giang cùng các đồn binh ở Trúc Ty, Vân Cốc, Trung Đồng khống chế vùng ngã ba Phượng Nhỡn nơi hợp lưu của các sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu tạo thành Lục Đầu Giang.

Tháng 7/1884 nghĩa quân Đại nghĩa đoàn tấn công quân Pháp ở Ngọc Trì (nay thuộc xã Bình Định, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh). Nghĩa quân còn củng cố các căn cứ ở Đình Bảng, Vân Cốc, Trung Đồng.

Theo Hiệp ước Pháp - Thanh, quân Thanh và quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc rút về nước. Đại nghĩa đoàn tan rã, Nguyễn Cao về làng Kim Giang, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, Hà Tây) dạy học.

Tháng 7/1885 vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần vương, Nguyễn Cao lại đứng ra vận động các sĩ phu Bắc Kỳ chống Pháp. Đầu năm 1886 vua Hàm Nghi phong cho ông chức Tán lý quân vụ Bắc Kỳ. Được ít lâu tình hình khó khăn, ông lại lui về Kim Giang bí mật tập hợp đồng chí.

Tháng 4 năm Đinh Hợi (5/1887), quân Pháp bắt được một tờ sớ của Hồng lô Tự khanh Tán tương quân vụ Ngô Quang Huy gửi vua Hàm Nghi có nói tới Nguyễn Cao. Bọn Pháp tung mật thám đi dò xét, ở làng Kim Giang có tên Việt gian tố cáo ông với giặc Pháp để tiến thân. Hôm đó ông không có nhà, học trò đến báo cho ông biết và xin ông tránh đi. Ông nói: "Bọn kia mất ta, tất sẽ tróc nã tìm trong dân chúng. Ta không nỡ vì một thân này mà để tai họa cho vài trăm người”. Rồi ông ung dung đi về nhà. Giặc đưa lính về bắt, chúng nhốt ông vào cũi giải về Hà Nội. Ông cắn lưỡi tự tử, chúng cứu chữa ông để khai thác các sĩ phu chống Pháp ở Bắc Kỳ. Có tên Việt gian đến dụ dỗ ông, chê bụng ông tối tăm không hiểu thời thế. Ông đập bát, lấy mảnh bát khoét rốn rút ruột ra cho chúng xem và thét: "Chúng bay xem, ruột tao trắng như ngó cần!”. Bấy giờ người đứng xem chật ních đều sợ hãi, bưng mặt mà chạy. Bọn giặc Pháp đưa ông đi cấp cứu. Ông nhịn ăn, uống, luôn miệng chửi bới quân thù, rồi thiếp đi. Khi tỉnh dậy, ông cắn lưỡi tự tử. Hôm đó là ngày 24 tháng ba năm Đinh Hợi (14/4/1887).

Cái chết của ông làm kẻ thù khiếp sợ, kích động lòng yêu nước của nhân dân. Ông đã chết, giặc Pháp vẫn đưa thi hài ông sang Tòa án Nam xét xử. Chúng xử ông tử hình, đem thi thể ông ra bãi Dừa bên hồ Hoàn Kiếm nay là bồn nước ga xe điện Bờ Hồ (cũ) thành phố để chém đầu.



NGUYỄN LÂM

Nguyễn Lâm gọi tên đầy đủ là Nguyễn Tri Lâm, sinh ngày 19 tháng 4 năm Giáp Thìn (5/1844). Ông là con trai thứ hai Tổng thống quân vụ, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, quê làng Chi Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông gọi Gia Định Tán lý quân thứ đại thần Nguyễn Duy là chú ruột.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cả văn học lẫn võ công, Nguyễn Lâm lại có tinh thần ham học, thông tuệ từ nhỏ nên học giỏi có tiếng. Là con nhà quan nhưng tính tình ông rất hòa nhã, khiêm nhường không cậy mình là con quan đại thần mà kiêu ngạo. Khi ông bước vào tuổi thiếu niên (14 tuổi) thì cha và chú phải vào cầm quân đánh Pháp ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, nên ông đã luyện tập võ nghệ, đọc binh thư để nối nghiệp cha, chú đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi.

Năm 1859, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo vào Nam Kỳ hạ thành Sài Gòn. Vua Tự Đức phong cha ông làm Tổng thống quân vụ đại thần - giữ chức Gia Định Quân thứ Thống đốc quân vụ đại thần cùng chú ông là Nguyễn Duy đang giữ chức Gia Định Quân thứ Tán lý đại thần xây dựng Đại đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha.

Ngày 25/10/1861, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha điều động đại lực lượng binh thuyền tấn công chiến lũy Kỳ Hòa. Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy cùng các tướng cố thủ chiến lũy Kỳ Hòa gây tổn thất nặng nề cho Liên quân Pháp - Tây Ban Nha. Chiến lũy Kỳ Hòa vỡ, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, Nguyễn Duy tử trận, cả ba tỉnh Đông Nam Kỳ lọt vào tay giặc Pháp. Từ đó Nguyễn Lâm càng nung nấu chí căm thù giặc Pháp, chuyển hẳn sang học võ, đọc binh thư để sau này chỉ huy quân đội Khi ông vừa tròn 18 tuổi, ông đã theo cha giúp việc quân. Năm Nguyễn Lâm 20 tuổi đã là một thanh niên tuấn tú, lập được nhiều chiến công. Vua Tự Đức có lòng yêu gả công chúa Đồng Xuân cho, phong làm Phò mã đô úy.

Năm Tự Đức thứ 24 (1871), Nguyễn Lâm thấy cha đã 72 tuổi, luôn luôn bận rộn việc quân ở Bắc Kỳ bèn làm sớ xin theo đi Tam Tuyên quân thứ để đỡ đần cha xông pha nơi trận mạc và tiện phụng dưỡng cha già. Khi ông ra tới Hà Nội thì triều đình giao cho cha ông làm Tổng đốc Hà - Ninh để đối phó với âm mưu xâm lược của quân Pháp. Vì vậy khi con trai ra Bắc, ông liền giữ con ở lại thành Hà Nội giúp việc.

Sáu giờ sáng ngày 20/11/1873, (1 tháng 10 năm Quý Dậu) quân Pháp nã đại bác cấp tập vào thành. Nguyễn Tri Phương phán đoán từ trước vì ông súng đạn ít, ông cho nghi binh ở cửa Bắc, cửa Tây, tự mình giữ cửa Đông Nam, giao cho Nguyễn Lâm giữ cửa Tây Nam. Đúng như phán đoán của Nguyễn Tri Phương, Francis Garnier cũng nghi binh ở cửa Bắc, cửa Tây chia làm hai cánh quân đánh cửa Đông và cửa Nam. Nguyễn Tri Phương cùng các tướng thân lên mặt thành chỉ huy quân sĩ. Quân Pháp bắn đại bác dữ dội vào thành rồi cho quân tiến sát tường thành. Đại bác của ta đặt trên mặt thành bắn vọt ra xa không trúng đội hình quân Pháp. Nguyễn Lâm đứng trên mặt thành chỉ huy quân sĩ lăn đá gỗ, bắn những tên tới gần, dùng câu liêm đẩy thang của chúng, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của giặc. Đạn đại bác của giặc phá vỡ cửa thành Tây - Nam, quân giặc ồ ạt tràn vào. Nguyễn Lâm chỉ huy quân đánh giáp lá cà. Ông trúng đạn hy sinh, năm đó ông mới 29 tuổi. Quan lại làm sớ tâu về kinh, vua Tự Đức thương tiếc ban dụ: "Làm tôi thì chết theo điều trung với nước, làm con thì chết theo điều hiếu với cha, thật đáng khen ngợi! Phò mã Nguyễn Trí Lâm không phải trách nhiệm cầm quân ra trận, nay chết về việc hiếu nghĩa, trên trả được nợ nước, dưới không phụ tình cha. Thực đáng là bậc tu mi đứng trong hoàn vũ. Vậy truy tặng hàm Binh bộ Tả thị lang để biểu dương”.

Vua lại cấp cho 300 quan tiền tuất để lo việc tẩm liệm, sắc cho quan lại Hà Nội cấp binh phu tống tiễn linh cữu về kinh và an táng tại làng. Năm Tự Đức thứ 28 (1875) vua lại phê lập nhà thờ Trung hiếu tại làng để thờ cúng Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy là cha và chú.

Trong bài văn tế của quan Khâm mệnh triều đình có những câu:

“…Nhĩ tử Nguyễn Lâm, tiên nhĩ dĩ vong oanh oanh liệt liệt hào tố nhất trường.
Thị huynh, thị đệ, thị phụ, thị tử cổ chi Biên môn đãi bất quả thử!
Ô hô! Vi thần năng trung ư quốc!
Ô hô! Vi tử nang hiếu ư thân!
Duy trung chữ hiếu, nhất môi hàm tụng...”

Như vậy là cả cha, chú và ông đều hy sinh trong sự nghiệp chống giặc Pháp xâm lược ở cuối thế kỷ XIX.



HOÀNG VĂN HÒE

Hoàng Văn Hòe sinh năm Mậu Thân (1858). Quê ông ở làng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Tân Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Khoa thi năm Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870) ông đỗ cử nhân tại trường thi Hà Nội. Năm 1858, quân Pháp đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Năm 1859, quân Pháp đánh tỉnh thành Sài Gòn, thì Nguyễn Tư Giản dâng sớ về kế sách đánh Pháp, Hoàng Văn Hòe làm bài thơ:

LỜI HÔ HÀO ĐÁNH GIẶC

Vua nước lo hôm sớm
Kinh xưa khói mịt mùng
Quân ta mau tiên phát
Thẳng đến thành Hoàng Long.

Bài thơ có tác dụng thôi thúc mọi người gia nhập đội quân do nhà yêu nước Phạm Văn Nghị chiêu mộ vào Nam giết giặc.

Ngày 11 tháng 10 năm 1873, Thiếu tá Hải quân Francis Garnier dời Sài Gòn đem binh thuyền ra đánh Bắc Kỳ. Ngày 20/11/1873, Garnier tấn công thành Hà Nội. Thành Hà Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, bị giặc bắt đã tuẫn tiết. Cuối tháng 11/1873 , quân Pháp vượt sông Hồng đánh chiếm huyện Gia Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hoàng Văn Hòe chiêu mộ quân đánh Pháp, khích lệ những người tham gia đội quân kháng chiến ông làm bài thơ:

KHẨU HIỆU

Sơn mãng do tiềm thử
Giang ba hốt phí kình
Xích mi vị năng phá
Bạch diện bất tu binh
Tân đảm lao thần lự
Yên trần thảng cổ kinh
Nhạc quân đương tảo phát
Thống ẩm Hoàng Long thành.

Dịch nghĩa:

Chuột vẫn còn lẩn ở núi cỏ rậm,
Cá kình bỗng làm sôi sục sóng sông
Giặc lông mày đỏ chưa phá được
Cánh thư sinh mặt trắng thì không biết việc binh
Làm nhọc lòng vua phải nằm gai nếm mật
Kinh đô cũ gió bụi âm thầm
Quân của ông Nhạc nên sớm xuất phát.
Tiến thẳng đến uống say ở thành Hoàng Long.

(Khẩu hiệu tức là lời hô hào đi đánh giặc. Nguyên chú: Quý Dậu niên (1873) Hà Thành hữu sự, dư thời mộ dũng tòng thứ. (Năm Quý Dậu (1873) Hà Nội có việc, tôi lúc bấy giờ mộ quân đi theo quân thứ.
Xích mi: tên gọi nhóm giặc bôi lông mày đỏ thời Tây Hán. Ởđây chỉ giặc Pháp.
Ông Nhạc đây chỉ Tống Nhạc Phi đời Tống chống quân xâm lược Kim
Khi Nhạc Phi đem quân đánh Kim có hát: "Ta quyết đánh thẳng vào thành Hoàng Long mà uống say”. Đây ví Hoàng Long với Thăng Long lúc đó bị quân Pháp đánh chiếm lần thứ nhất. Hoàng Văn Hòe viết bài này kêu gọi lấy lại thành Thăng Long).

Hoàng Văn Hòe đã đem đội nghĩa quân của mình chiến đấu dưới sự chỉ huy của Phạm Thận Duật và Trương Quang Đản tiến đánh quân Pháp, ngày 4 tháng 12/1873 tiêu diệt đồn binh Pháp đóng ở Gia Lâm. Ngày 21/12/1873 giải phóng huyện Siêu Loại Gia Lâm, (Siêu Loại, đều thuộc trong phủ Thuận Thành). Năm 1874, triều đình Huế ký Hòa ước với Pháp , Hoàng Văn Hòe tiếp tục dùi mài kinh sử, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn, Tự Đức thứ 33 (1880). Sau đó ông lại trúng tuyển khoa Yếm bác. Ông được bổ làm Tri phủ Kiến Xương, hàm Thị độc.

Sau khi triều đình Huế ký Hiệp ước Hannand (8/1883) Hoàng Văn Hòe từ quan, gia nhập nghĩa quân Tạ Hiện chiến đấu ở vùng Nam Định, Thái Bình. Sau đó Hoàng Văn Hòe cùng Nguyễn Cao, Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy, Dương Khải thành lập Đại nghĩa đoàn, còn gọi là Tam tỉnh nghĩa quân. Đại nghĩa đoàn có hơn 5000 quân tuyển từ các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên.

Nghĩa quân đánh thắng quân Pháp nhiều trận lớn như trận Ngọc Trì, tên nôm là làng Bến nay thuộc xã Bình Định, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh. Sau vài tháng chiến đấu, lực lượng nghĩa quân suy yếu, thiếu súng đạn, bị quân Pháp truy kích liên tục nghĩa quân tan rã, một số gia nhập các lực lượng kháng chiến khác. Để tăng cường lực lượng phe chủ chiến ở triều đình, Tôn Thất Thuyết tiến cử ông với vua Hàm Nghi. Vua triệu ông về triều giữ chức Sử quán Biên tu kiêm Kinh diên Khởi cư trú.

Đêm mùng 4 rạng mùng 5 tháng 7 năm 1885 , Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn nghĩa quân tiến đánh Tòa khâm sứ, đồn Mang Cá. Hoàng Văn Hòe được giao chỉ huy một cánh quân đánh vào đồn Mang Cá, ông hy sinh anh dũng.



BÙI VĂN DỊ

Bùi Văn Dị tức Bùi Ân Niên sinh ngày 17/5/1833 tức ngày 28 tháng 3 năm Quý Tỵ. Cụ thân sinh là Bùi Văn Hy, đỗ tú tài thời Minh Mệnh. Ông quê ở làng Châu Cầu, xã Mễ Tràng, huyện Thanh Liêm, nay là thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Ngay từ thuở nhỏ, Bùi Văn Dị đã có tư chất thông minh, có trí nhớ tốt. Năm 13 tuổi đã vượt qua kỳ thi khảo hàng xứ để dự thi Hương. Hai khoa thi Hương năm 1850 và 1 852, ông đều thi đỗ tú tài khi mới 18 tuổi và 20 tuổi. Năm 1855, ông 23 tuổi, thi đỗ cử nhân. Năm Ất Sửu (1865) ông vào Huế dự khoa thi tiến sĩ, đỗ thứ tư, hạng trúng cách. Song vào thi Đình lại bị trượt, nên chỉ xếp đỗ Phó bảng cùng với người em họ con ông chú ruột là Bùi Văn Quế.

Ông lần lượt được bổ làm Tri phủ các huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng tỉnh Bắc Ninh. Được một thời gian ông về cư tang. Năm 1871, các đại thần Bùi Tuấn, Nguyễn Tư Giản vốn biết tài ông, tiến cử ông thăng Án sát Ninh Bình, sau ông vào Nội các.

Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, Tự Đức cử ông cùng Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Thượng Phiên ra xử lý các vụ Pháp chiếm bốn tỉnh thành ở Bắc Kỳ. Ông được triều đình cử làm Án sát Ninh Bình. Sau ông được về kinh thăng hàm Quang lộc Tự khanh, làm việc ở Nội các. Ông học vị không cao nhưng nổi tiếng về tài văn chương, nên vẫn được đề cử làm quan Duyệt quyển.

Năm 1876 ông được cử làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh. Ông dẫn đầu sứ bộ hoàn thành nhiệm vụ. Các quan lại nhà Thanh đánh giá ông rất cao.

Cuối năm 1878, ông lại được sung vào Nội các. Cũng năm đó ông được duyệt quyển thi Hội, thi Đình lần thứ hai. Theo quan chế của triều đình, dùng quan ở Nội các không đặt quan nhị phẩm, song vì ông có nhiều công lao, được giao thêm chức quyền Tham tri bộ Lại để chính thức phẩm trật.

Năm 1881, ông làm Đại thần của quản lý nha Thương bạc, là cơ quan chuyên trách việc giao thiệp với Pháp và trông nom các thuyền luôn qua lại.

Tháng 4 năm 1882 , Henri Rivière hạ thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Giặc Pháp được một số giáo dân phản động và giáo dân được quân Pháp huấn luyện, trang bị vũ khí như Tạ Văn Phụng, giúp sức đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ, Bùi Văn Dị dâng sớ đề nghị triều đình kiên quyết chống đánh. Ông được triều đình cử giữ chức Khâm sai phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ, ông vẫn dẫn một đội quân nhỏ đi kiểm tra các tỉnh. ông tổ chức các cuộc tấn công giặc, phòng thủ không cho giặc lấn chiếm các vùng chung quanh tỉnh thành.

Khi Henri Rivière đem quân di Nam Định, Bùi Vãn Dị Khâm sai phó kinh lược sứ Bắc Kỳ và Trương Quang Đản Tổng đốc Ninh - Thái (Trương Quang Đản là con trai Trương Đăng Quế sau về làm Tuần phủ Quảng Trị cùng với em trai là Trương Văn Để tham tri bộ Binh, người phái chủ chiến mà Tôn Thất Thuyết tin cậy đã đầu hàng Pháp, hai anh em đưa Tam cung về Huế và còn dẫn quân đi đón bắt vua Hàm Nghi theo lệnh của quân Pháp). , kéo quân về Gia Lâm, Văn Giang đối diện với đồn Thủy để chống đánh quân Pháp. Trong khi đó thì Hoàng Kế Viêm chỉ huy quân thứ Sơn Tây cùng tướng Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc kéo quân về đóng ở Hoài Đức, Từ Liêm. Quân Pháp bị hai gọng kìm phía Bắc (Gia Lâm) và phía Tây (Hoài Đức, Từ Liêm) kẹp lại. Tên Đại tá Béc tơ đờ Vile, kẻ thay Henri Rivière giữ thành Hà Nội thấy rõ mối nguy hiểm của hai cánh quân Bắc Ninh và Sơn Tây. Ngày 18/3/1883 hắn cho tầu vượt sông Hồng tấn công các làng ven sông như Gia Quất, Thượng Cát, Ngọc Lâm ở Gia Lâm. Bùi Văn Dị trực tiếp chỉ huy quan quân chặn đánh quyết liệt, làm chết và bị thương hơn 30 tên, số còn lại hốt hoảng chạy xuống tầu về Đồn Thủy. Sau trận này triều đình cử ông làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh, tức là làm Tham mưu cho đạo quân Bắc Ninh là một trong hai đạo quân mạnh của triều đình ở Bắc Kỳ (Bắc Ninh và Sơn Tây). Bùi Văn Dị, Trương Quang Đản phối hợp với Hoàng Kế Viêm mưu đánh chiếm lại thành Hà Nội, song không giành được thắng lợi.

Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 3/1883, quân ta từ Gia Lâm và Hoài Đức tấn công vào thành, riêng quân của Hoàng Kế Viêm đánh vào kho thóc, là nơi mấy hôm trước quân Pháp còn đóng nhiều, hiện còn đóng ít. Béc tơ đờ Vile nghi rằng ý định của quân ta bấy giờ là để đánh úp quân Pháp ở Đồn Thủy kéo đến cứu viện rồi thừa hư qua sông mà chiếm Đồn Thủy, nơi trung tâm của địch. Cho nên địch không tiếp viện cho kho thóc, nhưng quân ta cũng không chiếm được vị trí này.

Ngày 28/3, Béc tơ đờ Vile đem 200 quân qua sông đánh phục thù. Chúng lục lọi các xóm bờ sông rồi tiến về Gia Quất, dưới sông có tầu chiến gắn đại bác yểm trợ. Bùi Văn Dị, Trương Quang Đản tự mình đốc chiến. Quanh làng có lũy đất và lũy tre, rào tre là chiến lũy của quân ta, quân ta bắn chặn, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của quân Pháp. Tại làng Gia Quất, hai bên đấu súng rồi đánh giáp lá cà. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Trong khi quân ta chiến đấu, thì trai tráng, dân binh trong làng không đi tản cư, trợ chiến bằng giáo mác, gậy gộc, khua chiêng trống, thùng chậu uy hiếp quân Pháp. Theo lời Vile thuật lại thì: “người An Nam đánh đến cùng, giật cả súng của lính Pháp”. Như vậy là trận đánh ở Gia Quất rất kịch liệt. Quân ta ở Gia Quất rút lần về hướng Bắc Ninh và hướng Bát Tràng. Căn cứ Thượng Cát vẫn tiếp tục chống cự với địch, giữ từng ngõ xóm, từng nhà, đến khi quân ta rút thì quân Pháp đốt luôn cả làng Thượng Cát cũng như chúng đã đốt rụi cả làng Gia Quất.

Bùi Văn Dị và Trương Quang Đản tập hợp quân trên sông Đuống để phản công, toan đi vòng cắt đường rút lui của địch. Quân Pháp phán đoán được ý đồ của quân ta luôn hối hả chạy ra bờ sông Hồng, trên đường rút, chúng đốt thêm nhiều làng xóm nữa.

Giặc rút, quân ta trở lại Gia Quất, Thượng Cát chôn cất tử sĩ, giúp nhân dân, sửa chữa nhà cửa, một mặt củng cố trận địa sẵn sàng đánh địch.

Đầu tháng 5/1883, quân Pháp ở Hà Nội bị hai cánh quân Bắc Ninh và Sơn Tây tạo thành thế hai gọng kìm ép chặt. Đêm 815/1883 đại bác của quân thứ Bắc Ninh do Bùi Văn Dị, Trương Quang Đản đặt ở trên bờ đê sông Hồng ở Gia Lâm nhả đạn vào Hà Nội, ở Đồn Thủy, ở căn cứ tại nhà thờ Hàm Long, có đêm bắn tới 80 phút, gây thiệt hại cho quân Pháp, khiến quân Pháp rất hoang mang. Đêm 15/5/1883, quân ta tập kích vào căn cứ quân Pháp ở nhà thờ Hàm Long. Henri Rivière hốt hoảng xin viện binh ở Hải Phòng, của Hạm đội Pháp đóng ở Hạ Long và của Sài Gòn.

Việc vua quan nhà Nguyễn ký hàng ước 25/8/1883 làm cho Bùi Văn Dị suy sụp tinh thần đến phát bệnh và là cái cớ để không nhận chức Tổng đốc Ninh - Thái, cùng lúc Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây, ông về ở ẩn tại Thanh Hóa. Đến năm đầu Kiến Phúc (18 84) ông được triệu về kinh sung vào kinh diên làm "nhật giảng quan" giảng dạy cho vua Kiến Phúc, Ưng Lịch (sau là vua Hàm Nghi). Sau đó ông bị ốm, xin về dường bệnh ở Hải Quật, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Khi vua Hàm Nghi lên ngôi, ông được cử làm Tả Tham tri bộ Lại. Khi toàn bộ đất nước rơi vào tay quân Pháp, ông chán cảnh quan trường, chọn đất Hải Quật, Thanh Hóa dựng một nhà tranh, lấy hiệu là Hải Nông làm nơi ẩn dật.

Mặc dù ông từ chối ra làm quan nhiều lần, song cuối năm 1887, ông lại phải buộc về triều làm Thượng thư bộ Lại, Phụ chính đại thần. Trong dịp này ông được xét đặc cách nhận học vị tiến sĩ. Đến triều Thành Thái (1890) ông lại đi thi, đậu tiến sĩ. Ông được thăng Phó đô ngự sử, Thượng thư bộ Lại, bộ Lễ, Phụ chính đại thần và Quốc sử quán tổng tài. Sau đó ông xin từ chức, chỉ giữ chức phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán.

Ông mất năm 1895 ngay tại Quốc sử quán, thọ 63 tuổi. Ông có nhiều tác phẩm như "Dư Hiên tùng bút", "Du Hiên thi thảo” (văn), “Vạn lý hành ngâm” (văn), “Tồn am thi tập”, “Thời chính Tạp biên”, "Trĩ Chu thù xướng” (văn).


(Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)
- Lịch sử 80 năm chống Pháp - Chống xâm lăng của Trần Văn Giầu
- Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn. NXB Thuận Hóa).



NGUYỄN QUANG

Ngày 25/4/1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ 2. Nguyễn Cao, Nguyễn Huy Quang, Nguyễn Thiện Thuật đã thành lập "Đại nghĩa đoàn", còn gọi là "Tam tỉnh nghĩa quân" để đánh Pháp.

Đông đảo sĩ phu, hào kiệt ba tỉnh hưởng ứng, trong đó có Nguyễn Quang. Tên thực của ông là Nguyễn Trọng Đạo, quê ở làng Phù Khê, nay thuộc xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông giữ chức Án sát tỉnh Bắc Ninh, đã cùng em họ là tú tài Nguyễn Trọng Huyên chiêu mộ quân rồi gia nhập Tam tỉnh nghĩa quân.

Bộ Tư lệnh Đại nghĩa đoàn giao cho Nguyễn Quang nhiệm vụ chọn vị trí đóng đồn trại, phòng thủ. Nguyễn Quang là một trong những người đề xuất đóng đồn binh ở xã Đình Bảng, nay thuộc huyện Từ Sơn. Từ Đại đồn Đình Bảng, Nguyễn Quang còn thiết lập các đồn nhỏ khống chế lưu vực sông Cà Lồ ở các huyện Kim Anh, Đa Phúc của Bắc Ninh, Sơn Tây; các huyện Phổ Yên, Phú Bình của Thái Nguyên và dãy núi Thằn Lằn trong đó có đỉnh Sóc Sơn, đền thờ Thánh Gióng. Với tầm nhìn chiến lược của mình, Nguyễn Quang đã ủng hộ chủ trương của các thủ lĩnh Đại nghĩa đoàn xây dựng căn cứ ở vùng núi Nham Biền nay thuộc huyện Yên Dũng nằm trên bờ Hữu ngạn sông Thương. Nguyễn Quang cùng với Nguyễn Trọng Huyên có mối giao lưu rộng rãi với các nho sĩ, tổng lý vùng Từ Sơn, Yên Phong, Đông Anh, Tiên Du, đã đảm nhận việc phát triển lực lượng và tiếp nhận lương thực, thực phẩm của đồng bào ủng hộ. Các ông còn tham gia các trận đánh bảo vệ căn cứ, chặn đánh quân Pháp khi chúng đánh phá các căn cứ của Đại nghĩa đoàn. Song thế giặc quá mạnh, lực lượng nghĩa quân lại mỏng, thiếu vũ khí và lương thực, Nguyễn Quang phải trở về Phù Khê. Biết không khôi phục được lực lượng, tết năm 1885, ông đến lễ ở nhà thờ họ rồi tới xã Văn Môn, tổng Mẫn Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tuẫn tiết. Nhân dân Văn Môn đã lập miếu thờ người hào kiệt chống Pháp kiên cường.


Chân Tâm An

Đọc 1098 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp

( 22/11/2014 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 16/11/2014 ) « Các thiên tài thế giới thời còn đi học

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top