• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


ĐỖ PHÁT

Đỗ Phát tự là Tử Tuấn, sinh năm Quý Dậu (1813) tại thôn Quần Anh, xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Năm Canh Tý (1840) ông 28 tuổi, đỗ cử nhân. Khoa thi Hội năm Quí Mão (1843) ông 31 tuổi, đỗ tiến sĩ.

Năm Mậu Thân (1848), Tự Đức nguyên niên, ông được bổ làm Tri phủ ở Ứng Hòa rồi thăng Đốc học Nghệ An. Sau thăng Tư nghiệp Quốc Tử giám. Không bao lâu, ông mắc bệnh, phải xin về quê nghỉ.

Vào khoảng năm 1862, ông được cử làm Tham biện, chiêu mộ quân ra dẹp giặc dã ở Quảng Yên, bảo vệ vùng bờ biển và các đảo ở vùng Đông Bắc. Sang năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 17 (1864), ông được thăng hàm Quang lộc Tự khanh, sung làm Toản tu ở Quốc sử quán. Sau ông xin vê quê ở Nam Định chiêu mộ dân khai hoang vùng ven biển và thành lập các đồn binh "hải phòng" bảo vệ bờ biển. Do ông làm tốt việc chiêu dân khai hoang lập trại ấp mới, quy hoạch đồng ruộng, kênh mương để dân ổn định cuộc sống, nên được thăng làm Hồng lô Tự khanh giữ chức Doanh điền phó sứ ở Nam Định kiêm Thương biện lo phòng thủ mặt biển.

Khi các vùng dân cư mới được ổn định, các đồn "hải phòng" được thiết lập giữ việc đảm bảo an ninh, tuần tra vùng biển được thiết lập, ông được điều về kinh làm Tế tửu Quốc tử giám. Nhưng do sự ráo riết chuẩn bị xâm lược Bắc Kỳ của thực dân Pháp, chúng trang bị vũ khí cho nhiều toán thanh niên ở xứ đạo để hậu thuẫn cho chúng khi chúng đánh ra Bắc Kỳ, ông lại được điều ra Nam Định làm Doanh điền Phó sứ kiêm tuần phòng mặt biển. Ngày 21 tháng 10 năm Quý Dậu (10/12/1873), tầu chiến Pháp từ sông Vị Hoàng bắn đại bác vào cửa Đông thành Nam Định, do việc chuẩn bị phòng thủ không tốt, súng đại bác của giặc có sức công phá lớn, nên cửa thành Đông bị vỡ, quân Pháp tràn vào thành. Thành mất, vua Tự Đức đổ tội để mất thành cho các quan tỉnh Nam Định, các quan đều bị giải về kinh, riêng ông xin ở lại để ổn định tình hình, thu thập tàn quân, hợp lực với nghĩa quân chống Pháp, vua chuẩn cho.

Ông đã cùng các quan trong phe chủ chiến và các thủ lĩnh nghĩa quân lập nhiều căn cứ chống Pháp trong tỉnh, đánh thắng quân Pháp nhiều trận. Ông đang cùng với các tướng lo đối phó với giặc Pháp thì triều đình Huế lại đưa vụ án để mất thành Nam Định ra nghị bàn. ông phải chịu phạt trượng và đi đầy. Con ông là Bình Thành xin chịu tội thay cha, vì thế ông chỉ bị cách chức, cho lập công chuộc tội. Ông một lòng vì nước, vì dân nên vẫn cùng các tướng phe chủ chiến và thủ lĩnh nghĩa quân, củng cố đồn lũy đánh giặc Pháp. Một thời gian sau, ông được khôi phục hàm Biên tu, lĩnh chức Dinh điền sứ.

Năm Nhâm Ngọ, Tự Đức thứ 35 (1882) ông qua tuổi 70 xin về hưu được thăng chức Thị lang. Ông mất năm Quý Tỵ (1893), thọ 81 tuổi.

Nhân dân ở những nơi ông chiêu dân lập ấp khai hoang ở Giao Thủy, Hải Hậu nhớ công ơn, lập đền miếu thờ ông.


(Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn
- Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên).



NGUYỄN HỮU CƯƠNG

Nguyễn Hữu Cương sinh năm 1855. Ông là con thứ hai nhà văn thân nổi tiếng Nguyễn Mậu Kiến. Ông quê ở làng Động Trung, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Mậu Kiến là một nhà nho yêu nước, lại là một nhà hoạt động quân sự, nên đã rèn dạy các con, chẳng những giỏi văn thơ mà còn thành thạo các môn bắn súng, cưỡi ngựa, luyện chữ viết, học vẽ, cầm ca...

Quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873), triều đình Huế ký Hòa ước với Pháp. Cha ông - Nguyễn Mậu Kiến phản kháng lệnh bãi binh của Tự Đức, bị tước hết quan tước sung vào lính ở quân thứ Tuyên Quang, Thái Nguyên. Sau Nguyễn Mậu Kiến về sơn phòng Hưng Hóa, cùng Hoàng Kế Viêm và các văn thân phe chủ chiến chuẩn bị đánh Pháp. Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Bản được cha cho lên quân thứ tập dượt việc chinh chiến.

Năm 1883, Nguyễn Mậu Kiến mất do bị sốt rét ác tính, hai anh em ông trở về Nam Định lại chiêu mộ nghĩa quân chuẩn bị đánh Pháp. Sau ngày 25/4/1882, Henri Rivière hạ thành Hà Nội, Nguyễn Hữu Cương cùng với anh trai là Nguyễn Hữu Bản sang Nam Định cùng Đề đốc Lê Văn Điếm, Án sát Hồ Bá Ôn giữ thành Nam Định. Nguyễn Hữu Bản cùng các tướng chỉ huy quân sĩ giết được tên trung tá Carô (Carreau), Nguyễn Hữu Bản hy sinh anh dũng tại cửa Đông ngày 27/4/1883, Nguyễn Hữu Cương lui về quê cùng với em ruột là Nguyễn Hữu Phu, cháu ruột là Nguyễn Công Úc - Bang Úc, Nguyễn Năng Thố (con cô con cậu ruột)... xây dựng nhiều cứ điểm chống Pháp ở vùng Kiến Xương.

Năm 1884, triều đình bổ nhiệm Tạ Hiện là Chưởng vệ doanh Hùng Nhuệ ở Huế ra thay Đề đốc Lê Văn Điếm tử trận trong trận quân Pháp đánh thành Nam Định, chỉ huy việc đánh Pháp. Nguyễn Hữu Cương và em là Nguyễn Hữu Phu đã đón Tạ Hiện về căn cứ chống Pháp ở Động Trung để bàn bạc kế hoạch hợp đồng tác chiến giữa quân triều đình và nghĩa quân, đồng thời cổ vũ tinh thần cho nghĩa quân.

Khi Ưng Lịch lên ngôi, đặt niên hiệu là Hàm Nghi, Bố chính Đồng Sĩ Vịnh đã giới thiệu Nguyễn Hữu Cương về kinh đô Huế dâng tờ tấu lên, được vua Hàm Nghi tiếp nghe ông trình bày kế hoạch chống Pháp. Ông ở lại kinh đô gần 3 tháng gặp gỡ Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường. Song chỉ có Tôn Thất Thuyết là thiết tha chống Pháp.

Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết giao cho Nguyễn Hữu Cương trở ra Bắc chiêu lập quân sĩ mạnh giỏi, huấn luyện, đưa vào Huế bảo vệ kinh thành. Ông phụng mệnh ra Bắc, tới Quảng Bình thì được tin kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương.

Tới Bắc Kỳ, Nguyễn Hữu Cương đi Hưng Hóa là trung tâm kháng chiến thời đó. ông đã được gặp Nguyễn Quang Bích, Tống Duy Tân, Vũ Hữu Lợi, Phan Đình phùng, Đề đốc Đinh Trạch, Đốc Ngữ, Đề Kiều... Các ông đã họp cuộc họp quan trọng tại làng Cố Đô, huyện Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nhất trí hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi và chia nhau về các địa phương chiêu mộ quân đánh Pháp.

Ít lâu sau Nguyễn Thiện Thuật về nước được vua Hàm Nghi phong là Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần gia chấn trung tướng quân. Nguyễn Hữu Cương chiến đấu trực tiếp dưới quyền Đô thống Tạ Hiện, và được cử giữ chức Tán tương quân vụ mặt trận Thái Bình. Nguyễn Hữu Cương đã chỉ huy nghĩa quân đánh nhiều trận lớn gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Quân Pháp kéo về Động Trung đánh phá căn cứ kháng chiến, triệt phá nhà ông. Quân Pháp truy lùng ông không được, cho quật mả tổ tiên ông, song dân làng bảo vệ, nên việc này không thành. Toàn quyền Pôn Bê (Paul Bert) mời ông ra làm Án sát tỉnh Hưng Yên ông không nhận, công sứ Nam Định mời ông làm Tri phủ Kiến Xương, ông đều từ chối.

Ông mở trường dạy học, làm thơ, nay còn tập Mai Hồ thi thảo…

Ông bị mật thám Pháp theo dõi, song vẫn có nhiều cuộc tiếp xúc với các nhà chí sĩ yêu nước như Trần Xuân Sắc, Phan Bội Châu, phó bảng Ngô Đình Chí (Thanh Hóa), tú tài Chu Lê Hành (Hưng Yên), Đặng Đoàn Bằng (Hành Thiện Nam Định). Năm 1904, giáo sư Nhật Bản Thạnh Xuyên Thị Sỹ Nguyên từng du học ở Mỹ cũng tới nhà ông trao đổi về công việc chấn hưng của Nhật Bản. Những cuộc thăm hỏi, bàn luận thời cuộc của các nhà chí sĩ đã tạo điều kiện cho Nguyễn Hữu Cương tiếp xúc được với các tác phẩm của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Quốc) và bản dịch về triết học, văn học của JJ Rousseau, Montesquieu, Tônstôi, Banzắc theo các bản dịch ra tiếng Trung Hoa. Nguyễn Hữu Cương còn thông gia với các sĩ phu như Lương Văn Can ở số 4 Hàng Đào, Hà Nội; với Tam nguyên Trần Bích San (Vị Xuyên, thành phố Nam Định); cử nhân Ngô Sách Đôn (Từ Sơn, Bắc Ninh), phó bảng Vũ Nhuận Phủ (Hải Dương) là các nhà hoạt động trong Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du. Khi Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du, Nguyễn Hữu Cương đã cho nhiều con cháu xuất dương và giúp tiền bạc thậm chí còn vay nợ một khoản tiền lớn giúp thanh niên du học, không trả được, Tòa án Pháp tịch biên gia sản của ông.

Nguyễn Hữu Cương có mối liên hệ chặt chẽ với trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội vào tháng 3/1907. Ông đã tập hợp được nhiều nhân sĩ tiến bộ ở Thái Bình vận động thành lập Đông Kinh nghĩa thục ở Thái Bình và mở các hiệu buôn Đông Động (Đống Năm, Đông Quan), cửa hàng chợ Mới, cửa hàng Đồng Sâm, cửa hàng Cổ Rồng... Các cửa hàng trên đều góp tiền vào quỹ Đông Du.

Năm 1908, Nguyễn Hữu Cương cùng Lê Đại, Vũ Hoàng, tức Bẩy Quang, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí có xu hướng bạo động, các ông liên lạc với nhóm sĩ quan yêu nước trong Đảng Nghĩa Hưng do Hoàng Hoa Thám phái người về thành lập ở Hà Nội, sau việc không thành. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt vụ "Hà Thành đầu độc”. Giặc Pháp không đủ chứng cứ nên không bắt được ông.

Cũng trong năm 1908, ở Nam Trung Kỳ có phong trào chống thuế rộng lớn, thì tại Thái Bình Nguyễn Hữu Cương cũng đi vận động, diễn thuyết ở những nơi công cộng trong tỉnh kêu gọi mọi người chống thuế.

Nguyễn Hữu Cương ở trong nước vẫn liên lạc với Nguyên Thiện Thuật và Phan Bội Châu để bàn kế sách cứu nước, cứu dân. Nhà cầm quyền Pháp đã bắt Nguyễn Hữu Cương đem xuống Hải Phòng đưa xuống tàu, đày biệt xứ vào Cần Thơ. Ngày 12 tháng 5 năm 1912, Nguyễn Hữu Cương mất ở Cần Thơ.



NGUYỄN HỮU BẢN

Nguyễn Hữu Bản tự là Vụ Đức, hiệu là Động Nguyên, sinh năm 1841. Ông là con trai Án sát Nguyễn Mậu Kiến, quê ở làng Động Trung, phủ Kiến Xương, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Khi còn ở tuổi thiếu niên, ông học thông minh, thi Hương đỗ nhất trường. Năm ông 20 tuổi, cha là Án sát Lạng Sơn lo dẹp phỉ Cờ vàng Hoàng Sùng Anh, không có điều kiện lo việc nhà, ông phải thay cha quán xuyến công việc gia đình. ông cùng em trai là Nguyễn Hữu Khai đi khai khẩn vùng biển Tiền Hải, chiêu dân lập ra làng Đức Cơ.

Tuy không theo học, nhưng tuân theo lời dạy của cha, ông mở rộng nhà học, mời thày giỏi về dạy cho con em hàng tổng hàng xã học tập. ông còn củng cố, phát triển nhà in Chiêm Bái đường khắc in các tác phẩm văn học, lịch sử, binh pháp, thiên văn. (Thư viện Khoa học xã hội còn lưu giữ một số sách của nhà in Chiêm Bái đường như "Độc thư lạc thú” (thơ văn), "Đăng đàn bái tướng" (Binh pháp).

Ông chẳng những tổ chức khai hoang, đắp đường bắc cầu xây cống, tiêu nước cho vùng trũng trong huyện. Ngày nay làng Đức Cơ, huyện Tiền Hải còn có văn bia ghi lại công lao của Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Khai: "Dân làng nhiều phen bị bão lụt, thủy triều, nhiều người chiêu mộ trước bỏ đi… có một giáp Vũ Đức đem nhượng lại cho quan Hàn Lâm tu soạn tên là Bản để cùng hợp sức với ông nguyên mộ trước, tiếp túc mộ dân, sửa sang điền tễ, khẩn trị hoang vụ, làng ấp lại được trù mật, dân chúng tưởng nhớ công ơn suy tôn hai vị làm thành hoàng”.

Ở huyện Tiền Hải, còn truyền tụng bài ca:

Hai vị ấy gia công điều động,
Đem sức tài mà chống lại nhà siêu,
Khai hoang phế, đắp đê điều
Dân từ đấy, không xiêu liêu nữa,
Nhờ công đức các ngài sửa chữa,
Dân ngày nay nhà cửa vui đông
Rõ ràng nhân thắng đứng long
Mừng được chữ khả phong tị ốc.

Ông có uy tín với dân nên đã chiêu mộ dân binh đánh phỉ và giặc biển khi chúng tàn phá, cướp bóc quê hương.

Năm 1871, sau khi quân Pháp ổn định bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, nhòm ngó ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nguyễn Mậu Kiến đã cùng hai con trai là Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Bản chiêu mộ quân chuẩn bị đánh Pháp.

Ngày 12/12/1873, quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Nam Định. Nguyễn Mậu Kiến và Nguyễn Hữu Cương đưa quân lên Nam Định bảo vệ thành. Thành mất, cha con ông về xây dựng căn cứ kháng chiến tại huyện Kiến Xương. Lực lượng nghĩa quân đông tới 2000 người. Nghĩa quân do cha con ông chỉ huy dũng cảm, giầu lòng yêu nước, đánh nhiều trận lớn, gây thương vong nặng nề cho quân Pháp. Giặc Pháp phải thừa nhận là sợ cha con ông. Sự kiện trên được Giáo sư Trần Văn Giầu viết: "Địch sợ nhất cha con Nguyễn Mậu Kiên, người dân thường giầu có và nghĩa hiệp. Gácniê (F. Garnier) đã hứa trọng thưởng những ai cắt được đầu nhà thân hào ấy. Ông và hai con là Nguyễn Bản, Nguyễn Cương tụ họp ở Trực Định (Kiến Xương ngày nay) hàng nghìn nghĩa quân mà bản thân ông cung cấp lúa gạo, tiền bạc, quần áo và vũ khí. Hácmăng (Harmand) đem quân đến đánh nhưng không được”. (Trần Văn Giầu: Bắc Kỳ kháng Pháp. Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1957. trang 67-68).

Phán đoán thế nào giặc Pháp cũng trở lại đánh chiếm Nam Định, Nguyễn Hữu Bản cùng con trai là Bang Úc và các lực lượng nghĩa quân khác, tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ sẵn sàng đánh Pháp.

Ngày 25/4/1882 Henri Rivière đánh thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, thành Hà Nội mất.Trước tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Doãn Cử khẩn trương chiêu mộ quân, mua khí giới, xây dựng chiến lũy, sẵn sàng đánh giặc Pháp. Các ông lấy bốn huyện Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định, Tiền Hải của phủ Kiến Xương làm khu đề kháng trực tiếp; ba phủ Tiên Hưng, Kiến Xương, Thái Ninh làm hậu cứ chủ yếu. Các ông còn thành lập các đồn binh ở tuyến phòng thủ trên sông Hồng, sông Trà Lý và các đồn ở tuyến giữa. Trung tâm chỉ huy là Phủ Bo (thị xã Thái Bình ngày nay).

Trong một cuộc giặc Pháp tấn công thành Nam Định, ông đã cùng nghĩa quân chiến đấu rất kiên cường. Song hiềm thế giặc quá mạnh, thành bị thất thủ, Nguyễn Hữu Bản hy sinh nhưng con ông là Bang Úc vẫn cùng Nguyễn Doãn Cử và các tướng khác tiếp tục cuộc chiến đấu. Ông mất đi để lại một tổn thất vô cùng to lớn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.



HOÀNG VĂN TUẤN

Hoàng Văn Tuấn tên thực là Hoàng Văn Liêm, sinh năm 1825 tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nay thuộc xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông học giỏi, sớm có lòng yêu nước. Năm Mậu Ngọ (1858), ông cũng tham gia đoàn quân học trò ở các huyện thuộc Nam Định và ở các huyện Thanh Liêm, Bình Lục thuộc Hà Nội do Phạm Văn Nghị tổ chức Nam tiến.

Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương... ông đã cùng các văn thân huyện Ý Yên chiêu mộ tráng đinh đánh Pháp và một số dân công giáo quá khích theo Pháp. Đội quân của ông đã giúp Phạm Văn Nghị giữ Phong Doanh, Ý Yên, đánh đuổi bọn phản động theo Pháp ra khỏi các huyện Thanh Liêm, Phủ Lý. Sau khi triều đình Huế và Pháp ký hòa ước, đội quân của ông truy quét bọn phản động theo Pháp không cho chúng tới cứu nguy cho bọn phản động đã chiếm huyện lỵ Lý Nhân đang bị Tuần phủ Hà Nội Phạm Thận Duật bao vây tiêu diệt. Sau Hòa ước triều đình xét thưởng những người có công thì Tự Đức tự tay viết tám chữ son tặng huyện Ý Yên: “Ý Yên tứ tú: Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương”. (Ý Yên có bốn người giỏi (hay ông tú) Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương). (Tú tài Phạm Lý ở xã Yên Hòa sau làm bang biện, Cần vương gia nhập khởi nghĩa Bãi Sậy; Tú tài Trần Vãn Nghĩa ở xã Văn Xá; Tú tài Hoàng Văn Tuấn ở xã Phú Khê; Tú tài Lê Văn Phương ở thôn An Hộ, xã Phú Khê).

Phạm Văn Tuấn đỗ tú tài ba khóa liền, năm Bính Tý (1876), Tự Đức thứ 29, tại trường thi Thanh Hóa ông đỗ thủ khoa, năm 41 tuổi, được bổ làm Tri huyện Nam Xang, khi đó thuộc tỉnh Hà Nội. Ông thấy triều đình Huế liên tục ký những hiệp ước đầu hàng Pháp, dung túng bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo thả sức hoành hành, kéo nhau đi cướp bóc, tàn phá đình chùa, liền cáo quan, triều đình triệu nhiều lần cũng không ra.

Năm 1882 quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Năm 1883 chúng tung quân đi đánh Nam Định và các tỉnh, Hoàng Văn Tuấn chiêu mộ quân khởi nghĩa, vận động nhân dân trang bị vũ khí, tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. ông giữ chức bang biện, đã phân chia nghĩa quân thành cơ, ngũ, cử cai đội, suất đội cai quản, tổ chức huấn luyện kỹ thuật chiến đấu. Năm 1885 ông đã đem quân đánh chiếm lại được thành Phủ Lý. Cũng năm đó ông tổ chức đánh úp một đoàn thuyền giặc trên sông Đáy, chặn đánh bộ binh Pháp ở Bình Lương (Ý Yên). Ông đưa quân đi đánh tiếp ứng cho Bang biện Phạm Lý ở Yên Hòa (Ý Yên). Năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần vương ở các nơi tan rã dần. Quân Pháp cắt đặt quan lại đóng đồn binh ở Cổ Đan cùng tổng với xã Phú Khê, đem quân về đóng giữ đình Quán Chàm ở làng ông. Chúng cho quân đi càn quét nhiều nơi và bắt được ông, giam ở nhà lao Ninh Bình.

Sau đó giặc Pháp kết án ông 10 năm phát vãng, chúng chuyển lên Hà Nội nhốt ông ở quán Thánh Trấn Võ, đợi ngày đưa đi Côn Đảo.

Một người học trò cũ của ông là Cả Tương quê ở làng Nham Kênh trên bờ sông Đáy cứu được vợ chồng tên quan 5 người Pháp ở Sở Kiện. Hắn tỏ ý muốn đền ơn, Cả Tương bảo hắn: "Tôi với anh là kẻ thù, tôi có thể giết anh. Nhưng tôi cứu anh là để anh xin tha cho thày học của tôi là cụ Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn”. Tên quan 5 nhận lời, đưa ông lên Hà Nội vận động mấy tháng ông mới được tha, nhưng bị chúng quản thúc. Khi bị quản thúc ông vẫn tỏ rõ khí phách căm thù giặc Pháp, một lần, tên hào mục ở nhà thờ Sở Kiện khoe Cố Phước (Puginier), cố Đông (Gendreau) ở Sở Kiện tài giỏi và cứng cổ. Ông ngắt lời bảo hắn: “Cổ cố đạo có cứng bằng gươm không?”. Tên kia chột dạ không dám đến nữa.

Ông về làng được một năm thì mất, thọ 69 tuổi.




NGUYỄN GIẢN

Nguyễn Giản còn gọi là Nguyễn Văn Giản, sinh năm 1822, người xã Phùng Thiện, nay là thôn 5, xã Khánh Thiện, huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình.

Năm 1873, ông cùng ba con trai là Nguyễn Đường, Nguyễn Thị, Nguyễn Bích tham gia cuộc khởi nghĩa do Tam Đăng Phạm Văn Nghị chỉ huy. Ông đã chuẩn bị tham gia trận đánh ngăn chặn quân Pháp từ Ninh Bình đánh ra Nam Định theo đường sông Đáy vào sông Đào để xuống phá thành. Tam Đăng Phạm Văn Nghị chỉ huy cắm kè ở ngã ba Độc Bộ - nơi gặp nhau giữa sông Đào và sông Đáy. Thiên hộ Giản đắp đồn Trong và đồn Ngoài. Hai đồn nối với nhau bằng con đường đất, có thể chi viện cho nhau, tiến lui một cách dễ dàng.

Trong trận Độc Bộ, ngày 10/12/1873, tầu chiến Pháp đến ngã ba Độc Bộ, Tam Đăng Phạm Văn Nghị lệnh cho cho súng thần công phát hoả. Đạn trúng tầu chiến Pháp, song sức công phá kém chỉ làm gẫy cột tầu, giết chết 3 tên Pháp và làm bị thương một số tên. Tháng 3 năm 1883, giặc Pháp lại kéo tới đánh chiếm Ninh Bình, quan quân thấy tình thế nguy hiểm, mở cửa thành đón giặc vào, không dám bắn một phát súng nào. Nguyễn Giản đã kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Ông đem hết tiền bạc trong nhà để mua sắm vũ khí đạn dược, mang hết thóc lúa trâu bò làm quân lương. Việc chuẩn bị khởi nghĩa của cha con ông và bộ tham mưu tiến hành bí mật. Ngôi nhà của Thiên hộ cũng là nơi bộ tham mưu làm việc. Đây cũng là nơi có hầm đặt lò rèn sản xuất vũ khí súng trường bắn nhanh theo mẫu súng 1874 của Pháp, có hầm bí mật giấu vũ khí, có kho chứa lương thực.

Ngày 23 tháng chạp năm Kỷ Sửu (13/1/1890) quân Pháp bố phòng xung quanh tỉnh thành, chặn các ngả đường rồi bí mật kéo quân về đánh úp làng Phùng Thiện. Nghĩa quân chưa kịp đối phó thì quân Pháp đã ập vào lùng bắt. Cả bốn cha con Thiên hộ Giản và một số nghĩa quân bị bắt. Quân Pháp còn lấy được tại nhà Thiên hộ 30 lò rèn, 100 cối xay. Ngày hôm sau, 24 tháng chạp năm Kỷ Sửu (14/1/1890) giặc Pháp bắn chết Nguyễn Đường, Nguyễn Thị, Nguyễn Bích ở chân núi Cánh Diều. Nguyễn Giản bị giặc Pháp bắt giam trong ngục, hơn 2 năm sau, ngày 21 tháng 6 năm Nhâm Thìn (13/8/1892) ông mất tại nhà tù.

(Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 (174) ngày 5/6/1977, chú thích Thiên hộ Giản là một hào trưởng ở cùng Nho Quan, có lẽ là dân tộc Mường (chúng tôi chưa điều tra rõ lý lịch) đã giúp nhiều công của vào việc cứu dân và đánh Pháp nên được phong Thiên hộ. Tương truyền khi giặc Pháp vậy nhà ông còn bắt được hơn 30 lò rèn và 100 cối xay. Ông bị Pháp bắt và bị xử tử hình khoảng năm 1888. Hôm hành hình, trời có mưa to và sấm sét).


Chân Tâm An

Đọc 1155 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 28 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp

( 22/11/2014 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top