Quản Trị Phong Thủy

Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


HOÀNG PHAN THÁI

Hoàng Phan Thái quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, ông thi đỗ đầu xứ, nên các nhà nho suy tôn ông là "Đầu xứ Thái”.

Ngày 15 tháng 3 năm 1874 , triều đình Huế ký với thực dân Pháp bản Hiệp ước mang tên "Hiệp ước hoà bình và liên minh” tại Sài Gòn (Trong sử sách còn gọi là Hiệp ước Giáp Tuất).

Hiệp ước có 22 điều khoản. Trong đó điều khoản 5 ghi: "Triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất Việt Nam kể từ địa giới phía Nam tỉnh Bình Thuận trở vào”.

Lập tức các sĩ phu, nhân dân khắp nước, đặc biệt là ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ dấy lên phong trào phản đối triều đình Huế bán nước và thực dân Pháp cướp nước. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với khẩu hiệu "Đánh cả triều lẫn Tây”. Hội Văn thân Nghệ Tĩnh phát "Hịch bình Tây" trong đó có câu: 'Triều đình dẫu hoà với Tây mặc lòng, sĩ phu nước Nam quyết không chịu. Vậy... xin đánh đuổi Tây cho hết để giữ lấy nền văn hiến của ta đã có hơn ngàn năm nay”.

Hưởng ứng "Hịch Bình Tây”, Phan Thái xưng hiệu là “Đông Hải đại tướng quân” chiêu mộ nghĩa binh chống lại sự bạc nhược của triều đình Huế đầu hàng giặc Pháp. Triều đình Huế đưa quân đến Nghi Lộc quê hương ông vây bắt. Ông bị bắt đưa ra xử chém.

Hoàng Phan Thái hy sinh khi chưa thực hiện được hoài bão giết giặc, trừ gian của mình nhưng nó như một ngòi nổ kích động nhiều cuộc khởi nghĩa khác. Riêng ở Nghệ Tĩnh đã có các cuộc khởi nghĩa của Vương Thúc Mậu (1886-1887) ; Lê Ninh, Tống Duy Tân...

Hành động của cụ Đầu xứ Hoàng Phan Thái được Phan Bội Châu hết sức ca ngợi. Năm 1907, Phan Bội Châu viết: Tập tiểu truyện Đầu xứ Thái, một nhà nho sống thời Tự Đức và đã bị bọn phong kiến triều Nguyễn xử tử vì có tư tưởng chống đối triều đình nhà Nguyễn. Trong Phan Bội Châu niên biểu, tác giả cho rằng: cuốn trên này đánh dấu một chuyển biến lớn trong tư tưởng của mình. Truyện đề cao một "loạn thần" lên địa vị "ông tổ" mở đường cho cuộc vận động chống quân quyền ở Việt Nam đồng thời tố cáo tội ác của Tự Đức.



LÊ VĂN MAI

Lê Văn Mai sinh năm 1843, người làng Vĩ Khánh nay thuộc xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ông là người thông tuệ từ nhỏ, thi đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn, năm Tự Đức thứ 21 (1868) khi mới 25 tuổi, được bổ làm quan Ngự sử, nên dân gian gọi là Ngự Mai.

Năm 1873 giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, các phủ, huyện của Hà Nam khi đó thuộc Hà Nội đều bị quân Pháp đánh. Quân triều đình chưa đánh đã bỏ chạy. Triều đình Huế sợ giặc không dám động binh, vội vàng ký "Quy ước" giữa Nguyễn Văn Tường và Philát nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi về kinh tế, chính trị, quân sự.

Lê Văn Mai đứng về phe chủ chiến, khuyên can vua không được liền từ quan về quê. Ông đã liên kết với những người cùng chí hướng như tú tài Lê Văn Tốn, chiêu mộ quân rèn đúc, vũ khí theo Đinh Công Tráng khởi binh đánh Pháp.

Khi hai ông khởi binh rồi gia nhập cuộc khởi nghĩa Đinh Công Tráng thì thế lực nghĩa quân càng mạnh. Lê Văn Mai trở thành mưu sĩ hàng đầu, là tướng tâm phúc của Đinh Công Tráng. Ông cũng chủ trương vạch ra kế hoạch tác chiến, bày binh bố trận dụ địch vào nơi đất hiểm, và ông cũng là người cầm quân đánh những trận đó. Nghĩa quân Đinh Công Tráng chiến thắng nhiều trận lẫy lừng ở Tràng Bưởi, Sở Kiện, rồi ào ào tiến sang Nam Định giải phóng phủ Bỏ (Ý Yên), chợ Dầu (VụBản) thị xã Phủ Lý.

Ngày 15/3/1874, Triều đình Huế ký với Pháp "Hiệp ước Hoà bình và liên minh” thực tế là đầu hàng giặc Pháp, ra lệnh triệt binh của triều đình, giải tán nghĩa quân. Đinh Công Tráng trả chức tước cho triều đình, ông cử Lê Văn Mai ở lại mở trường dạy học để tuyên truyền lòng yêu nước, chí căm thù giặc Pháp cho thanh niên, huấn luyện quân sự, dạy binh thư cho anh em rồi lên Sơn Tây - Hưng Hoá gia nhập quân của Hoàng Kế Viêm được phong Lãnh binh, ông thường xuyên có mối quan hệ với Lê Văn Mai.

Ngày 25/4/1882 (mùng 8 tháng ba năm Nhâm Ngọ) Henri Rivière tấn công thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuần tiết theo thành.

Đầu năm 1883 quân Pháp đánh chiếm Phủ Lý và các phủ huyện nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ngày 27/3 thành Nam Định thất thủ...

Do có 10 năm chuẩn bị, nên ngay khi quân Pháp đánh chiếm Phủ Lý, Lê Văn Mai đã triệu tập nghĩa quân đánh Pháp và bọn giáo dũng khiến chúng không dám đánh rộng ra các phủ huyện. Ông còn phối hợp với nghĩa quân của Lê Văn Tốn tập kích vào các trại quân Pháp.

Đinh Công Tráng sau khi dự trận đánh ở Cầu Giấy ngày 19/5/1883, ông trở về Hà Nam, Nam Định gây dựng phong trào đánh Pháp thống nhất các lực lượng kháng chiến ở Hà Nam. Vốn mến mộ tài năng và đức độ của ông, chỉ trong mười ngày, ông đã có một đội nghĩa quân đông tới 5000 người. Ngự Sử Lê Văn Mai và tú tài Lê Văn Tốn cũng đem quân tới phối hợp.

Hốt hoảng trước lực lượng nghĩa quân Đinh Công Tráng, giặc Pháp tập trung quân càn quét vùng sông Đáy. Lê Văn Mai đã sát cánh cùng chủ tướng Đinh Công Tráng chiến đấu dũng cảm đánh thắng nhiều trận ở Thong, Bưởi, xây dựng căn cứ rừng Tràng huyện Thanh Liêm. Từ căn cứ này, nghĩa quân liên tục đột nhập vào Phủ Lý, huyện lỵ Thanh Liêm. Giặc Pháp tập trung quân, đại bác bắn vào căn cứ rừng Tràng.

Không giữ được căn cứ, Lê Văn Mai cùng chủ tướng Đinh Công Tráng rút quân về xây dựng căn cứ kháng chiến mới ở Thư Điền, tỉnh Ninh Bình. Sau Đinh Công Tráng nhận thấy Thư Điền dễ bị cô lập khi quân Pháp bao vây, tấn công nên Đinh Công Tráng đã cùng các ông Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Hà Văn Mao xây dựng căn cứ ở các xã Kim Âu và Thạch Bằng thuộc huyện Quảng Hoá, Thanh Hoá.

Theo gợi ý của Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết khi đó đã đưa vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương, Đinh Công Tráng và Lê Văn Mai đã chuyển xuống đồng bằng xây dựng các căn cứ Ba Đình, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngự Sử Lê Văn Mai đã sát cánh cùng thủ lĩnh Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh khác xây dựng và chiến đấu bảo vệ căn cứ này.

Ngày 18 tháng 12 năm 1886, nghĩa quân Ba Đình đánh bại cuộc tấn công qui mô đầu tiên của quân Pháp vào căn cứ từ hai hướng: hướng Tây Nam do tên trung tá Melzinzen chỉ huy, hướng đông bắc do tên trung tá Dodds chỉ huy. Nhưng chúng đã bị nghĩa quân đánh bại. Lê Văn Mai dũng cảm chỉ huy nghĩa quân đánh lùi những đợt xung phong của quân Pháp, ông anh dũng hy sinh. Nghĩa quân đưa thi hài ông về quê ông ở làng Vĩ Khánh, xã Liêm Túc an táng. Bia mộ của ông nay vẫn còn ở đình Hát xã Liêm Túc. Khi còn sống làng Tập Mỹ, huyện Bình Lục xây đình đã mời ông đến cất nóc. Khi ông hy sinh dân làng tôn ông làm Thành hoàng thờ ở đình. Ông được nhân dân vùng Liêm Sơn tôn trọng, xưa kia vẫn kiêng tên huý của ông không nhắc đến.



NGUYỄN THÀNH THÀ

Nguyễn Thành Thà quê ở thôn Phan Bổng, xã Đô Mỹ, huyện Thần Khê (nay là xã Bình Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Nguyễn Thành Thà học võ rất nhanh và thi đậu cử nhân võ hạng ưu khi tuổi còn rất trẻ.

Thành Thà được bổ chức quản suất ở Lạng Sơn, một chức quan võ nhỏ ở một tỉnh miền núi. Tuy chỉ là quản suất, nhưng bằng tài năng của mình ông đã lập được nhiều chiến công được thăng chức Chánh quản ở tỉnh Hưng Yên, chuyên lo xây dựng lực lượng quân sự để đối phó với giặc Pháp đang có âm mưu đánh chiếm Bắc Kỳ. Thời gian này ông có công huấn luyện cho một số nghĩa dũng trong dân quân Nam tiến 365 người do Đốc học Phạm Văn Nghị tổ chức tình nguyện vào Đà Nẵng đánh giặc ngày 29/2/1860. Cuối tháng 11 và 12/1873, quân pháp đánh chiếm thành Hà Nội, phủ Hoài Đức, nhiều phủ huyện của tỉnh Hà Nam (khi đó thuộc Hà Nội) phủ Thuận Thành (Bắc Ninh), thành Hải Dương, thành Ninh Bình, Hạ xong các thành trên, quân Pháp tiến đánh thành Nam Định, ngày 10/12/1873 quân Pháp do Francis Garnies cho tầu chiến vượt qua đồn Độc Bộ, do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị chỉ huy nghĩa quân chống giữ. Nguyễn Thành Thà giữ chức Chánh quản ở Hưng Yên phán đoán trước đường tiến quân của quân Pháp nên trước đó ít ngày, ông đã đưa một bộ phận nghĩa quân tinh nhuệ từ Hưng Yên sang đồn Độc Bộ cùng nghĩa quân Phạm Văn Nghị giữ đồn. Khi chiến hạm của quân Pháp lọt vào trận địa, nghĩa quân đã đánh một trận quyết chiến quyết liệt, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.

Sau Hiệp định 1874 triều đình Huế phải nhượng bộ Pháp nhiều điểm, để đổi lại Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ, chỉ để lại một bộ phận đóng ở Hà Nội và Ninh Hải (Hải Phòng). Nguyễn Thành Thà ở lại Nam Định. Ngày 25/3/1883, trung tá Hải quân Hăngri Rivierơ chỉ huy quân Pháp từ Hà Nội vào chiếm sông Vị Hoàng, gửi tối hậu thư buộc Tổng đốc Nam Định nộp thành. Sáng sớm ngày 26/3/1883, quân Pháp tấn công thành, Đề đốc Lê Văn Điếm, Án sát Hồ Bá Ôn đã chỉ huy nghĩa quân đánh giặc giữ thành. Hai cánh nghĩa quân do Nguyễn Thành Thà và Nguyễn Hữu Bản được giao giữ Cửa Đông. Cửa Đông là mũi tấn công chính của giặc Pháp, nên cuộc chiến diễn ra hết sức quyết liệt Nguyễn Thành Thà bị đạn pháo bắn bị thương vẫn không rời vị trí chỉ huy. Song thế giặc mạnh, nghĩa quân bị thương và hy sinh nhiều, Đề đốc Lê Văn Điếm đã tử trận, Nguyễn Thành Thà gom số quân còn lại lui về lập đồn cố thủ ở Vị Xuyên.

Nghe tin Thành Thà về xây dựng đồn Vị Xuyên, các bạn chiến đấu, học trò của ông về tụ nghĩa rất đông. Triều đình cử Tạ Hiện người làng Quang Lang, huyện Thụy Anh về làm Đề đốc Nam Định. Tạ Hiện đã cử Nguyễn Thành Thà về cùng Đinh Gia Quế xây dựng căn cứ Bãi Sậy và các căn cứ ở vùng Thần Khê, Duyên Hà. Với tư cách là phái viên của quan Đề đốc, Nguyễn Thành Thà đã đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng lực lượng, thu góp quân lương tại các căn cứ trên. Nguyễn Thành Thà còn xây dựng thôn Phan Bổng - quê hương ông thành một căn cứ kiên cố, đồng thời là nơi chứa quân lương lớn nhất trong vùng.

Vua Hàm Nghi thăng Nguyễn Thành Thà là Lãnh binh ở Hưng Yên, ông là trung tâm tổ chức hiệp đồng chiến đấu của các thủ lĩnh nghĩa quân Phạm Huy Quang, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan…

Những năm cuối đời, tuổi cao, sức yếu, Lãnh binh Nguyễn Thành Thà vẫn xông pha trận mạc. Ông còn cầm quân tiêu diệt bọn giặc bể Tàu Ô từ biển tràn vào cướp phá huyện Thái Ninh, Thụy Anh. Đầu năm 1895 giặc Pháp tấn công căn cứ Phan Bổng, căn cứ bị vỡ. Nguyễn Thành Thà bị thương. Nghĩa quân đưa ông về căn cứ ở Mỹ Hào (Hưng Yên) điều trị vết thương. Khi ông sắp qua đời, nghĩa quân đưa ông về căn cứ Phan Bổng. Ông mất vào một ngày cuối năm 1895. Nhân dân học trò, nghĩa quân tới phúng viếng rất đông.



NGUYỄN XUÂN ÔN

Nguyễn Xuân Ôn sinh ngày 22 tháng 3 năm Ất Dậu, người làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, nay là xã Diễn Thái huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là người thông tuệ, đọc sách nhớ lâu, người đời gọi đùa là "tủ sách bụng”. Năm 1844 ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi, năm 1847 đỗ tú tài lần thứ hai. Lận đận mãi đến khoa thi Đinh Mão, Tự Đức 20 (1867) ông mới đỗ cử nhân. Khoa thi Hội Tân Mùi, Tự Đức 24 (1871), khi đã 42 tuổi ông mới đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, được bổ nhiệm tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), rồi lại được bổ làm Án sát Bình Thuận.

Nguyễn Xuân Ôn là người cương trực, khẳng khái chỉ trích quan lại tham nhũng. Ông là người đứng hẳn về phe chủ chiến. Năm 1874 ông đã báo cáo với triều đình âm mưu của giặc Pháp nhưng vua Tự Đức và các quan lờ đi, ông liên tiếp gửi sớ về trình bày kế hoạch đánh giữ. Ông còn xin về Nghệ An để cùng quan lại địa phương tổ chức lực lượng kháng chiến. Ông cực lực phản đối chủ trương của triều đình cầu hòa với Pháp. Vua Tự Đức chủ trương cầu hòa, nên không ưa ông, đã phê vào sớ của ông dòng chữ: "Kiến sự phóng sinh" (Thấy việc nói tràn). Triều đình mượn cớ cầu hòa, nhưng thực tế là đầu hàng, ký nhiều Hiệp ước bán rẻ chủ quyền cho thực dân Pháp. Nguyễn Xuân Ôn vẫn kiên trì trình bày tường tận ý kiến, phương lược chống Pháp của mình. Ông cũng tuyên bố rõ ràng: "Nếu triều đình không nghe thì từ chức”. Vì thế mỗi khi triều đình tiếp được sớ của Nguyễn Xuân Ôn đề cập đến việc giặc Pháp thì tỏ thái độ rất khó chịu. "Có lần Thượng thư bộ Lại lúc đó là Nguyễn Chánh đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt, thậm chí cả Tự Đức cũng xuống chiếu trách phạt”.

Triều đình Huế không muốn để Nguyễn Xuân Ôn là người có tư tưởng chống Pháp ở Bình Thuận, giáp với Lục tỉnh Nam Kỳ, mà triều đình Huế đã bán đứt cho Pháp thì xảy ra một sự việc: Khoảng cuối năm 1881, đầu năm 1882, một tên cố đạo Pháp ngang nhiên xúc phạm nghi lễ của dân tộc đã bị ông điều lên cho hỏi tội. Vì việc này, thực dân Pháp trách cứ triều đình Huế vi phạm Điều 9 "Hiệp ước Hòa bình và Liên minh" đối với đạo Thiên Chúa là; chấm dứt việc mạt sát đạo Thiên chúa, cho phép các giáo sĩ được đi lại khắp nơi để truyền giáo”. Vì thế triều đình Huế điều ông ra làm Án sát tỉnh Quảng Bình điều tra một số vụ án không quan trọng.

Ông ra Quảng Bình chưa được bao lâu thì ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày 12/3/1883, quân Pháp đánh Hòn Gai, ngày 27/3/1883, giặc Pháp hạ thành Nam Định…

Trước họa xâm lăng một số tướng lãnh ở Bắc Kỳ như Hoàng Kế Viêm, Bùi Văn Dị, Nguyễn Chánh, Trương Quang Đản đều mật tâu về kinh xin đánh. Nhưng Tự Đức chỉ phái người ra Hà Nội thương thuyết xin Pháp trao trả lại thành, lệnh cho quân chính quy và quân Cờ Đen lên mạn ngược, nới lỏng vòng vây cho quân Pháp, bắt các sĩ phu giải tán nghĩa quân, cho người đi cầu cứu nhà Thanh.

Sau khi Nguyễn Xuân Ôn gửi nhiều bản sớ tấu về triều không được Tự Đức chấp nhận, ông xin từ quê về Nghệ An để phát động cuộc kháng chiến chống Pháp. Song ông vẫn dâng sớ xin kinh lý miền thượng du để có cơ sở kháng chiến lâu dài. Tiếp nữa ông lại dâng sớ điều trần các việc nên làm, kịch liệt phản đối chủ trương hòa hảo với giặc Pháp của triều đình. Chán cảnh triều đình đầu hàng giặc Pháp, ông cáo quan về quê nhà ở xã Diễn Thái huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An rồi tự mình đứng ra lo việc chống Pháp. Ông "chăm việc vỡ hoang đồn điền, tập hợp những người dân lưu tán, xếp vào đội ngũ, chờ lúc cần mà dùng”. Từ khi về nhà tới đầu tháng 8/1884 là thời gian ông bàn bạc với các đồng chí tin cậy, chuẩn bị mọi mặt từ tuyển quân, huấn luyện, trang bị vũ khí, tích trữ quân lương, xây dựng căn cứ.

Tháng 8 năm 1884 vua Hàm Nghi lên ngôi cho người ra Nghệ An phong cho Nguyễn Xuân Ôn làm "An - Tĩnh Hiệp đốc quân vụ đại thần thông lĩnh lực lượng nghĩa quân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh”. Ông lập tức tuyển quân, chỉ trong nửa tháng số quân lên gần 2.000 người. Ông có nhiều trợ thủ đắc lực như Đề Kiều, Lãnh Mậu, Lãnh Phương, Đốc Nhan, Đề Vĩnh, Lãnh Bảng, Đề Thắng lo việc huấn luyện, trang bị vũ khí, tịch trữ quân lương, xây đồn lũy.

Tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn Nghĩa quân tấn công đồn Mang Cá, khu Nhượng địa. Việc không thành. Các ông rước vua Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị).

Ngày 13/7/1885 từ Tân Sở, chiếu Cần vương được phát đi trong cả nước kịch liệt tố cáo âm mưu cướp nước của thực dân Pháp, hô hào toàn dân đứng lên chống Pháp cứu nước. Tiếp được chiếu, Nguyễn Xuân Ôn lập tức hưởng ứng. phong trào tòng quân diễn ra rầm rộ ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

Thực dân Pháp nghe tin Nguyễn Xuân Ôn khởi binh ở Nghệ An vội vàng kéo vào chiếm đất, đóng đồn khống chế các hoạt động của nghĩa quân. Giữa tháng 11/1885, nghĩa quân của Nghè Ôn và quân Pháp đánh nhau dữ dội ở xã Đoài, ưu thế nghiêng về phía nghĩa quân. Sau trận thắng này thanh thế của nghĩa quân Nghè Ôn càng lớn mạnh. Ông lui quân về Tây bắc xã Đoài tiến hành các hoạt động quân sự mạnh mẽ hơn.

Trong năm 1886 nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn đánh thắng nhiều trận lớn như trận Thưa Sủng, Đồng Mờm, Đồng Nhơm trên con đường từ Diễn Châu đi Yên Thành. Tháng 6/1885 vua bù nhìn Đồng Khánh ra dụ nếu thủ lĩnh Nguyễn Xuân Ôn (và 17 người nữa) nếu ra đầu thú sẽ được giữ nguyên hàm và được bổ làm quan từ Quảng Bình, Quảng Trị đổ vào. Song Nguyễn Xuân Ôn không thèm đếm xỉa đến những lời gạ gẫm của Đồng Khánh, vẫn tiếp tục cuộc chiến. Cuối năm 1886 nghĩa quân còn táo bạo thọc sâu xuống đồng bằng, ven biển, tấn công đồn Pháp ở chợ Sy (cạnh đường số 1, thuộc huyện Diễn Châu).

Năm 1887 nghĩa quân Nguyễn Xuân ôn đánh thắng nhiều trận lớn như trận vùng Sừng, Mị, Xóm Hố thuộc vùng tây bắc huyện Yên Thành.

Trong các trận đánh, Nguyễn Xuân Ôn luôn luôn đi hàng đầu, nêu cao gương dũng cảm, làm cho khí thế nghĩa quân phấn chấn. Ông bị thương nhiều lần. Trong một trận đánh vào tháng 6/1887 ở xóm Hồ, ông bị thương vào bả vai phải về làng Đồng Nhân, nay là thôn Đồng Đức, xã Mã Thành, huyện Yên Thành điều trị. Ngà.y 12 tháng 4 năm Đinh Hợi (25/7/1887), tên quan một Bunlơ (Bouloux) chỉ huy một toán lính cải trang làm nông dân do tên Tới dẫn đường xâm nhập vào nơi ông ở. Khi phát hiện ra quân Pháp, 20 cận vệ xông ra cản giặc. Một cuộc kịch chiến xảy ra. Quân Pháp đông và mạnh, phần lớn vệ sĩ hy sinh. Nguyễn Xuân Ôn rút kiếm tự tử, song bị quân Pháp ngăn lại, bắt ông. Lúc đầu chúng giam ông ở đồn Yên Mã (Mã Thành, huyện Yên Thành). Sau đó chúng đưa ông về giam ở Diễn Châu. Đến ngày 13/8/1887 chúng giải ông về nhà lao Vinh. Tại đây giặc dùng mọi cách mua chuộc, lung lạc ông, song ông vẫn kiên cường không khuất phục. Chúng buộc ông bảo thuộc hạ ra hàng. Ông suy nghĩ nhận thấy quân Pháp đang mạnh, quân ta ở thế yếu, lại không có chủ tướng, nếu tiếp tục chiến đấu sẽ gây tổn thất lớn, cần phải bảo toàn lực lượng để quyết chiến với giặc khi có cơ hội. Vì vậy ông viết thư khuyên tướng sĩ giải tán về nhà làm ăn. Về sự kiện này sau này ông viết trong Lời trình về Bộ năm Mậu Tý (1888) - "Tôi đem lòng báo nước, lòng và sức đều kiệt, việc đã không ra gì, nếu cứ để lại những người bộ thuộc , sợ không thể trì chí, nên tôi viết thư bảo họ giải tán đi”.

Giặc Pháp thấy nghĩa quân đã giải tán, ông tuổi cũng đã cao, đã bị thương lại hay đau yếu, không có lý gì để xử tử ông, song chúng vẫn không dám đưa ông về Nghệ An mà bắt ông ở Huế. Nhưng ra tù được mấy tháng, ông lâm bệnh nặng rồi mất vào cuối năm 1889. Nguyễn Xuân Ôn để lại tập thơ "Ngọc Đường thi tập" gồm 311 bài, "Nguyễn Đường văn tập” 22 bài, một số câu đối, thơ Nôm. Thơ văn của ông nêu cao tinh thần quyết tâm kháng chiến bất chấp quân Pháp có vũ khí hiện đại. Các bài thơ cũng lên án mạnh mẽ giặc Pháp và vua quan nhà Nguyễn đầu hàng giặc.



LÊ VĂN ĐIẾM

Đề đốc Lê Văn Điếm quê ở xã Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, ông tham gia giữ thành Nam Định.

Đề đốc Lê Văn Điếm và các quan tỉnh phe chủ chiến, các thủ lĩnh nghĩa quân chăm chú theo dõi các hoạt động khiêu khích của quân Pháp và dân theo đạo Thiên chúa. Bất chấp lệnh bãi binh của triều đình, Lê Văn Điếm vẫn lệnh cho các đồn binh củng cố công sự, sẵn sàng chiến đấu. Trong chừng mực có thể, ông còn giúp vũ khí cho nghĩa quân, cử các Hiệp quản, suất đội có kinh nghiệm giúp các thủ lĩnh nghĩa quân huấn luyện quân sự cho tân binh.

Trước thái độ tích cực chống Pháp của quan quân, nhân dân nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ. Tầu Carabin đậu ở sông Nam Định cứ đêm đến bị ném đá. Khi quân Pháp cho tầu chiếm ngã ba Độc Bộ cửa ngõ của tỉnh thành Nam Định, Lê Văn Điếm phán đoán quân Pháp sắp đánh chiếm Nam Định. Đến ngày 24/2/1883 H.Rivière tiếp nhận được binh lính và tầu chiến, hắn cho tầu chiến vào chiếm Sông Đào khống chế thành Nam Định.

Quân dân Nam Định càng khẩn trương chuẩn bị đánh giặc. Người già, đàn bà, trẻ con được lệnh rời khỏi tỉnh thành. Ngày 10/3/1883, Henri Rivière gửi thư cho Thomson, Thống đốc mới ở Nam Kỳ xin cho đánh Nam Định. Ngày 23/3/1883, Henri Rivière chỉ huy quân lính đi trên các tàu chiến Carabin, La Hat sơ, Yatagăng, Tông Canh (Tonkin Kiang Nam và Oăm Poa) (Wampois) và một số thuyền theo sông Hồng về đánh Nam Định. Chúng tới Phủ Lý không bị cản trở, ở qua đêm tại đó rồi hành quân qua sông Đáy, Ninh Bình, không bị quân triều đình ngăn cản. Tới Vĩnh Trụ, thì tàu Pluvier đợi sẵn nhập bọn. Ngày 24/3 chúng tới ngã ba Độc Bộ có tầu Surprise đợi sẵn. Sáng ngày 25/3/1883, Henri Riviere gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình đòi nộp thành. Vũ Trọng Bình kiên quyết không giao, chúng liền bắn pháo giữ dội vào thành. Đề đốc Lê Văn Điếm cùng các tướng chỉ huy quan quân đánh bật nhiều đợt tấn công của giặc khiến chúng phải rút chạy về tàu.

Sáng sớm ngày 27/3, tàu chiến Pháp bắn dữ dội vào cửa Đông, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến trưa. Đề đốc Lê Văn Điếm chỉ huy vòng ngoài giữa vòng vây của giặc, xông pha lửa đạn chỉ huy quân lính đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc. Xác chúng ngổn ngang trên đường. ông bị trúng đạn vào bụng, ruột lòi ra ngoài, ông lấy tay ấn vào, lấy khăn chít đầu quấn chặt lại, tiếp tục chỉ huy quan quân đánh giặc. Quân sĩ thấy chủ tướng bị trọng thương vẫn không rời trận địa, tất thảy đều hăng hái xông lên giết giặc. Đề đốc Lê Văn Điếm chiến đấu đến khi ngất xỉu, quân sĩ đưa lên ngựa chạy về cửa Tây tới Biên Dương thì chết. Quan quân đưa thi hài ông về Bồng Trung an táng.


Chân Tâm An

Đọc 1254 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 27 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 28 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

( 03/01/2015 ) « Tỷ phú Việt Nam: Bà Dương Thị Bạch Diệp