• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


TỔNG ĐỐC HOÀNG DIỆU

Hoàng Diệu nguyên tên là Hoàng Kim Tích, sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu (5/3/1829), người xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Khoa thi Hương tại Thừa Thiên năm 1848, Hoàng Diệu đỗ cử nhân. Năm năm sau, năm 1853, Hoàng Diệu thì Đình, đỗ Phó bảng.

Khởi đầu ông làm Tri huyện huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Do nha lại lầm lẫn án từ, ông bị giáng chức làm Tri huyện Hương Trà, Thừa Thiên. Sau theo bản sớ tấu của Đặng Huy Trứ tiến cử người hiền tài, ông được phục chức làm Tri phủ Lạng Giang, rồi thăng Án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh. Năm 1873 ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, sau làm Tham tri bộ Lại, kiêm Đô sát viện, sung cơ mật đại thần. Năm 1878, ông được bổ chức Khâm sai đại thần. Cùng năm đó, Hoàng Diệu được nhận chức Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh). Năm sau ông được điều về kinh giữ chức Phó sứ thương thuyết với Tây Ban Nha, sau đó ông giữ chức Thượng thư bộ Binh. Tháng giêng năm 1880, ông được thăng chức thự Tổng đốc, năm 1881 thăng Tổng đốc Hà - Ninh (Hà Nội - Ninh Bình).

Hoàng Diệu làm quan lớn, cha mẹ, vợ chính thức được phong tước hiệu, nhưng gia đình ông vẫn sống ở làng quê một cuộc sống dân dã. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Hoàng Diệu tính tình cương trực, lâm sự quyết đoán, có phong độ bậc đại thần”.

Ngày 4/4/1882, Henri Rivière vào thành yết kiến Tổng đốc Hoàng Diệu. Chuyến vào thành không nhằm mục đích ngoại giao mà đích thân dò xét mọi mặt. Hoàng Diệu phán đoán hắn ra chuyến này là để hạ thành Hà Nội, nhưng chưa có lệnh của Triều đình Huế, ông không dám đánh ngay. Ông gấp rút điều động lực lượng phòng thủ trong thành bố trí ở những địa điểm xung yếu. ông cho tôn cao mặt thành lên từ 1,5 mét đến 1,9 mét, tường thành được tu bổ dầy thêm từ 0,60 mét đến 0,8 mét. Cổng thành được làm lại bằng gỗ lim dầy, vững chắc bên trong chất nhiều bao đất đá, gỗ. Riêng của Nam và cửa Đông - nơi Garnier đột nhập vào 10 năm trước, có thêm các dẫy tường chéo bao bọc lấy khu trung tâm, có kho thuốc súng, quân dụng và hành cung. Như vậy là hai cửa Tây và cửa Bắc không vững như hai cửa trên. Súng đại bác cũng được tăng cường, đặt trên mặt thành. Ông còn phái một bộ phận quân đội ra ngoài thành để cùng lực lượng dân binh đánh tập hậu quân địch.

Sáng 25/4/1882, Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu với lời lẽ xấc xược. Bức thư láo xược của giặc Pháp, làm cho Tổng đốc Hoàng Diệu vô cùng căm tức. Ông lập tức triệu tập các quan văn võ họp ở lầu trên Cửa Đông, xếp ở đó mấy hòm thuốc súng, rót rượu nói với các quan, tướng rằng: “Tôi xin các ông cạn chén, thề tận trung báo quốc. Nếu vạn nhất thành mất thì tất cả chúng ta đến đây, đốt các hòm đạn này”. Các quan thà chịu chết chứ không chịu đầu hàng.

Tổng đốc còn cho người ra ngoài thành, lệnh cho cử nhân Nguyễn Đồng, phường Bích Câu đưa dân binh đánh vào sau lưng quân Pháp, làm rối loạn đội hình của chúng. Quân ta đóng chặt cửa Đông và cửa Bắc, tổ chức chiến đấu ở cửa Tây và cửa Nam. Quân Pháp nghi binh ở cửa Đông, cửa Nam, nhưng lại đánh phá cửa Bắc và cửa Tây. Tổng đốc Hoàng Diệu đang ốm vẫn mặc triều phục, mang gươm cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng thân lên mặt thành đốc chiến. Ông cũng không khoan nhượng với bọn quan lại có tư tưởng hòa hoãn, đầu hàng, ngăn chặn những vụ phá hoại, gieo rắc hoang mang trong quân lính của chúng. Trong trận chiến, Nguyễn Đình Trọng, còn gọi là Cử Tốn, giữ chức suất đội thuộc Tả trấn, hữu dinh ở trong thành, ông là vệ sĩ của Tổng đốc, luôn luôn theo sát bảo vệ Tổng đốc. Hai ông suất đội là Trần Lộc, người làng Nghè, Bếp Bốn người làng An Phú đều thuộc huyện Từ Liêm chiến đấu trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Tổng đốc Hoàng Diệu, tả xung hữu đột và đều hy sinh anh dũng. Song thế giặc mạnh, ùa vào bên trong. Quân ta tan rã. Tổng đốc Hoàng Diệu, Phó lãnh binh Hồ Văn Phong không sao cản nổi giặc, vì chúng kéo vào quá đông. Thấy thành đã vỡ, khó lòng chống cự nổi, Hoàng Diệu quay mặt về phía Nam, chảy nước mắt nói: “Thần đã sức cùng, lực tận rồi, xin tạ tội”. Đoạn ông cưỡi voi đến Võ miếu, viết một bài biểu gởi vua Tự Đức, rồi ông lấy khăn quấn đầu bằng nhiễu đỏ thắt cổ tự tử để khỏi bị quân xâm lăng hạ nhục. Khí tiết hy sinh vì nước lẫm liệt của ông được Nguyễn Văn Giai ca tụng trong bài "Hà thành chính khí ca”.

“…Một cơn gió thảm mưa sầu
Nấu nung gan sắt dãi dầu lòng son
Chữ trung còn chút cỏn con
Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây
Trời cao hiểu rộng đất dầy
Núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi”.



CAI TRÍ

Cai Trí, tức suất đội Đỗ Đăng Lâm được Tổng đốc Hoàng Diệu tin cậy giao cho việc vận chuyển, bảo vệ các hòm giấy tờ, chiếu chỉ, bằng sắc công văn từ trong thành về huyện đường. Vì quá cẩn thận, ông Cai Trí cho hẳn một đội lính đi bảo vệ các hòm công văn trên. Điều đó khiến cho bọn mật vụ của Lãnh sự Pháp ở Đồn Thủy và những giáo dân Thiên chúa giáo quá khích được Pháp vũ trang nghi ngờ đó là các hòm vàng bạc, nên chúng báo ngay cho Lãnh sự Pháp. Vì vậy Lãnh sự Pháp coi huyện đường Thọ Xương cũng là một mục tiêu cho quân Pháp tấn công. Trước thế mạnh và sự hung hăng của giặc Pháp cùng bọn tay sai, tri huyện, lục sự, thông phán, nha lại cùng một số lính sợ hãi bỏ nhiệm sở chạy thoát thân. Mặc dù giặc cướp đông, trong huyện thành chỉ còn lại hơn 20 lính cơ, Cai Trí cùng anh em vẫn quyết tử giữ thành. Tên thông ngôn gọi loa uy hiếp Cai Trí và anh em lính cơ nếu đầu hàng nộp hết các hòm từ trong thành chuyển ra sẽ được tha mạng. Cai Trí biết rõ những hòm đó chứa đựng giấy tờ quan trọng nên dù chết cũng bảo vệ tới cùng. Bọn giặc không khuất phục được ông liền nổ súng rồi cho bọn trộm cướp phá cổng. Cai Trí chỉ huy anh em ngoan cường đánh trả giặc. Chỉ trong giờ đầu, hơn một chục anh em đã hy sinh, đè lên xác giặc. Cai Trí cùng số anh em còn lại lùi vào công đường giữ từng gian nhà. Hết đạn, ông cùng anh em dùng đoản dao, dao găm đánh giáp lá cà và đã hy sinh đến người cuối cùng.

Giặc rút, nhân dân huyện Thọ Xương vô cùng thương tiếc ông và anh em quân sĩ, làm lễ an táng trọng thể. Nhân dân huyện Thọ Xương nhớ ơn ông đã hy sinh cả thân mình chỉ huy quân lính đánh giặc, nên lập ngôi miếu nhỏ thờ ông.

Tự Đức có chỉ dụ truy tặng suất đội Đỗ Đăng Lâm (ông Cai Trí) chức Phó quản cơ vì đã chống cự quyết liệt cánh quân Pháp đánh chiếm thành huyện Thọ Xương, cùng lúc Henri Rivière hạ thành Hà Nội và hy sinh anh dũng.

Giặc Pháp sợ uy danh của ông, sợ nơi đây trở thành một lễ đài ghi công tích những người hy sinh đánh Pháp, nên chúng cho bọn lưu manh đập phá miếu. Miếu bị phá, nhưng dân vẫn thắp hương trên nền ngôi miếu cũ vì nhân dân Hà Nội vẫn hướng về ông như hướng về quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, quan Tổng đốc Hoàng Diệu, ông Chưởng Cơ giữ cửa ô Thanh Hà (nay là ô Quan Chưởng) và biết bao liệt sĩ khác đã hy sinh bảo vệ thành Hà Nội.



NGUYỄN ĐỒNG

Nguyễn Đồng, đỗ cử nhân võ, người ở phường Bích Câu, là người bộc trực nghĩa khí. Nguyễn Đồng khi đó tuổi đã ngoài 50, từ xưa tới nay vẫn nổi tiếng là bậc: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Ra đường thấy việc bất bình mà tha!”, đã khẳng khái nhận lời ủy thác của nhân dân đứng ra tổ chức nghĩa binh. Vốn là con nhà võ từng chỉ huy quân lính đánh trận, ông hiểu rõ, đánh thắng giặc chỉ có lòng dũng khí không chưa đủ mà còn phải là người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phải có vũ khí, phải biết tiến lui. Vì vậy ông chọn trong số những người tình nguyện trẻ tuổi, có vũ khí mở lớp huấn luyện cấp tốc dạy thế tiến, lui, cách lợi dụng vật cản che khuất và vật cản tránh đạn.

Cũng vào thời gian đó Henri Rivière ráo riết chuẩn bị đánh thành. Cử nhân Nguyễn Đồng tập hợp quân ở đình Quảng Văn (Nay khu vực đình Quảng Văn thuộc phường Cửa Nam, Hà Nội) rồi kéo quân đến cửa Nam thành Hà Nội xin Tổng đốc Hoàng Diệu điều động lực lượng nghĩa binh đi đánh giặc.

Khi đó Tổng đốc Hoàng Diệu đã cho bịt kín các cửa thành, việc đi lại giữa trong và ngoài thành đều dùng thang dây. Tổng đốc thân lên mặt thành khen ngợi tinh thần chiến đấu xả thân vì nước của đạo dân binh đông tới nghìn người do cử nhân Nguyễn Đồng chỉ huy. Tổng đốc yêu cầu Nguyễn Đồng về chấn chỉnh đội ngũ, trang bị thêm vũ khí để khi quân Pháp tấn công thành thì đem quân đánh tập hậu, gây rối loạn đội hình giặc, đồng thời ngả cây, dựng chướng ngại vật cản đường quân giặc.

Tổng đốc cũng tặng đội dân binh một số súng để tăng thêm nhuệ khí cho dân binh. Nguyễn Đồng nhận lệnh của Tổng đốc đưa quân về các phố phường, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu. Nhân dân Hà thành đem gạo, thịt ủng hộ đội dân binh. Các cụ già cũng đến các đình, chùa, đền miếu mượn chiêng, trống, mõ phân phát trong dân để khi giặc tấn công thì đánh lên để hư trương thanh thế.

Cử Đồng cũng không quên chia quân chủ động tấn công vào số giáo dân quá khích nghe lời xúi giục của một số gián điệp đội lốt cố đạo tập hợp thành các toán vũ trang đi cướp bóc, đốt phá các phủ huyện, các khu phố sầm uất, cướp đoạt của cải của nhân dân.

Ngày 20/4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội thì ông chỉ huy gần 1000 dân binh đánh vào sau lưng quân Pháp, tiêu diệt bọn giáo dân tay sai của giặc. Nhân dân gõ chiêng trống, mõ, thổi tù và trợ chiến cho quan quân trong thành. Nhân dân Hà Nội bên ngoài ô cửa Nam, cửa Bắc còn tự tay đốt các dẫy phố của mình tạo thành bức rào lửa ngăn cản giặc.

Sự hỗ trợ của dân binh đã gây phấn khích cho quan quân trong thành và làm cho quân Pháp khiếp đảm. Vì chúng đi tới đâu cũng nghe thấy tiếng reo hò, tiếng chiêng trống, tiếng mõ, tiếng thanh la, Henri Rivière phải cho một đội quân quay trở lại bắn như đổ đạn vào lực lượng dân binh chỉ có giáo, mác, gậy gộc trong tay. Song Nguyễn Đồng vẫn lợi dụng được sự thông thạo địa hình và sự dũng cảm của dân binh áp sát chân thành để trợ chiến.

Cuộc chiến của quân và dân trong và ngoài thành đang diễn ra quyết liệt thì kho thuốc súng trong thành bốc cháy. Quan quân hoảng sợ, một số vượt tường thành chạy ra ngoài. Dân binh do Nguyễn Đồng chỉ huy cũng nhanh chóng tan vỡ.

Thành Hà Nội mất, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Nguyễn Đồng và nhiều dân binh tham gia vào các lực lượng chống Pháp khác đang diễn ra trên địa bàn Hà Nội, Sơn Tây.



DƯƠNG HỮU QUANG

Trong trận quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, ngày 22 háng 4 năm 1882 , Dương Hữu Quang người làng Sơn Lộ (tên tục là làng So), tổng Đông Cứu, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội làm Tri huyện Thọ Xương, rồi Thương vụ quân sự Hà Nội. Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, dưới sự chỉ huy của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, ông chiến đấu tới khi thành bị vỡ mới thoát ra ngoài. Giữa năm 1883, Dương Hữu Quang được cử giữ chức Phòng binh tỉnh Sơn Tây, dưới quyền chỉ huy của Thống tướng Hoàng Kế Viêm (còn gọi là Hoàng Tá Viêm).

Ngày 01/9/1883, tướng Bouet chỉ huy lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ đích thân chỉ huy quân Pháp đánh thành Sơn Tây. Hoàng Kế Viêm kết hợp với quân Cờ Đen do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đón đánh quân Pháp ở Cầu Phùng. Dương Hữu Quang được giao nhiệm vụ chỉ huy một cánh quân đánh tạt sườn phía sông Hồng. Trận đánh diễn ra ác liệt từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 9 năm 1883, quân Pháp đại bại phải tháo chạy. Tướng Bouet bị triệu hồi và bị cách chức.

Sau chiến thắng ở Phùng, Dương Hữu Quang được lệnh của Thống tướng Hoàng Kế Viêm cùng các tướng tăng cường phòng thủ tỉnh Sơn Tây.

Trận đánh diễn ra mười ngày, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề, sau đó đại quân rút về Hưng Hóa. Dương Hữu Quang ở lại thu thập tàn quân, ông về ẩn náu ở chùa làng So, ông mượn áo tu hành để chiêu mộ quân đánh Pháp, vì thế nhân dân gọi ông là Tự So. Tại đây, Dương Hữu Quang thành lập hội Tín Nghĩa tập hợp những người yêu nước chống Pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông thu thập được hơn 40 sĩ tốt là những người chiến đấu gan dạ ở thành Hà Nội, Cầu Phùng và thành Sơn Tây. Song quân ít, vũ khí chỉ mới có hơn một chục khẩu súng bắn nhanh, còn lại là gươm, giáo nên chưa xuất trận lần nào.

Người gia nhập Hội Tín Nghĩa càng đông, chẳng bao lâu, đội nghĩa binh lên đến vài trăm. Dương Hữu Quang trút bỏ áo nhà chùa mặc lại quần áo nhà binh, huấn luyện quân sĩ.

Đội quân của Dương Hữu Quang hoạt động mạnh ở nội thành Hà Nội và các huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Đan Phượng, Tùng Thiện. Đội quân của ông trang bị kém xa quân Pháp, nhưng nhờ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lại được nhân dân hết lòng ủng hộ, tiếp tế quân lương, thông tin các hoạt động của quân Pháp, tố cáo bọn Việt gian nên trận nào nghĩa quân cũng thắng.

Vào một ngày giữa tháng 12 năm 1883, nghĩa quân được tin báo tên tuần phủ Ninh Bình gửi biếu tên công sứ Pháp ở Hà Nội một con voi. Dương Hữu Quang cho trinh sát đi nắm tình hình được biết bọn lính hộ tống voi sẽ đi qua trạm Hà Mai, xã Thanh Liệt, ông liền đặt quân mai phục đánh tan tác bọn hộ tống voi bắt được con voi.

Năm 1885, nghĩa quân đột nhập vào nội thành đánh bọn lính Pháp đua thuyền trên hồ Hoàn Kiếm do giặc Pháp và tay sai tổ chức kỷ niệm 1 năm ký Hiệp ước 1884.

Dương Hữu Quang chuyển địa bàn lên hoạt động ở tỉnh Sơn Tây. Thanh thế nghĩa quân ngày càng mạnh, thắng lợi tiêu biểu là trận Ngãi Cầu.

Không đánh thắng được nghĩa quân Dương Hữu Quang trên chiến trường, giặc Pháp hèn hạ cho tên Quận Vùng vốn là bạn với Dương Hữu Quang, đã ra đầu hàng nhân làm tay sai cho giặc Pháp nhưng chưa lộ mặt. Hắn mời Dương Hữu Quang sang nhà hắn chơi rồi đặt quân mai phục ám hại. Dương Hữu Quang nhận được lời mời, ông định đi thì các tướng khuyên nên cảnh giác đem quân đi hộ tống. Dương Hữu Quang nói Quận Vùng là bạn bè đâu nỡ theo giặc hãm hại mình, nhưng vẫn nể các tướng đem theo 15 quân hộ vệ.

Dương Hữu Quang đến nhà Quận Vùng, hôm đó là ngày 22 tháng 5 năm Quý Mùi (cuối tháng 6-1884), Quận Vùng hô phục binh đổ ra đánh. Mặc dù lực lượng ít, quân sĩ không đem vũ khí chỉ có đoản đao và dao găm lại bị bất ngờ, bị bao vây tứ phía, nhưng Dương Hữu Quang và các nghĩa binh đi hộ vệ đã kiên cường đánh trả bọn giặc, giết chết hơn ba mươi tên, nhưng nghĩa quân cũng hy sinh mất tám người. Dương Hữu Quang và các nghĩa quân còn lại cũng đều bị trọng thương. Tuy vậy anh em vẫn vừa đánh vừa phá vòng vây. Trên đường rút quân Quận Vùng cho quân đuổi theo, mặc dù thương tích đầy mình, anh em vẫn đánh trả, giết hơn một chục tên lính nữa. Khi họ đưa được chủ tướng về đại bản doanh thì ông đã mê man bất tỉnh.

Tang lễ Thủ lĩnh nghĩa quân Dương Hữu Quang được tổ chức rất trọng thể.



LÃNH CỒ

Lãnh Cồ còn gọi là Quận Cồ, tên chính là Phùng Văn Minh, người thôn Thanh Chiểu, xã Sen Chiểu, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây.

Căm thù giặc Pháp và vua quan triều đình Huế, phong trào khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi. Phùng Văn Minh cũng giương cao cờ nghĩa chống Pháp. Vì nhà nghèo, lại không phải là người xuất thân khoa bảng, nên ông khởi nghĩa với hai bàn tay trắng. Nhưng do lòng yêu nước thiết tha và chí căm thù giặc sâu sắc, kiên quyết chiến đấu, nên dân nghèo gia nhập rất đông.

Phùng Văn Minh lập căn cứ chống Pháp ở vùng rừng núi huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Để thu hút đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến ông đã thành lập các đội tuyên truyền đi khắp nơi dịch loa tố cáo tội ác của giặc Pháp xâm lược nước ta và triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc.

Nghĩa quân và nhân dân phong ông là Lãnh Cồ, còn giặc lại gọi ông là Quận Cồ. Lãnh Cồ đã phát Hịch chống Pháp, thường gọi là Hịch Lãnh Cồ. Nhân dân theo lời phát động của ông đã hăng hái tham gia rất đông.

Sau đây chúng tôi đăng nguyên văn:

HỊCH LÃNH CỒ

Tỉnh thành thất thủ, lệnh rút lui thực đã đắng cay;
Quân thứ triệt phòng, chiếu ban xuống càng thêm chua chát.
Như tằm ăn lá, gớm mưu quân Phú Lãng Sa
Là giòi trong xương, mạt kiếp thằng Lương Văn Đạt
Nên nỗi:
Tình thế gian nguy;
Cơ đồ tan nát,
Cũng vì triều đình nhu nhược, tham sinh nên đã đầu hàng;
Để cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát!

Nhưng chúng ta
Ở nước phải lo giữ nước, không nên giương mắt ngồi nhìn.
Có thân thì quyết hiến thân, đâu nỡ co vòi chịu nhát.
Có người có ta,
Còn nước còn tát,
Đọc chiếu Bình Ngô
Noi gương Sát Thát
Góp gió làm bão, đấu gạo, đồng tiền
Chụm cây lên rừng, gậy tầy giáo vạt,
Chí đã quyết sống còn với địch, chớ lo châu châu đá voi,
Việc phải tin thành bại ở người, há sợ dã tràng xe cát.
Nhớ những trận Cổ Đằng, Vân Mộng, chị ngã em nâng
Ôn những lời Tòng Lệnh, Đông Viên con khen mẹ hát,
Giữ dân làm gốc, chớ mong đục nước béo cò.
Nuôi sức đợi thời, đừng có tham miếng bỏ bát,
Những kẻ hại nòi, hại nước, xác xẻ thây vằm,
Cùng ai đồng chí, đồng cừu, vai kề cánh sát.
Vết xe cũ lìa đàn bên bị diệt, Đốc Khoát, Đề Công
Tấm gương soi hợp lực dễ thành công, rừng Thông, Cầu Giáp
Mấy lòng thiết tha
Tỏ lòng khao khát.

(Tập san Văn Sử Địa số 35 tháng 12 năm 1957)

(- Phú Lãng Sa: Phiên âm Hán - Việt tiếng Francaice ( Pháp )
- Lương Văn Đạt : Tên Việt gian đã lẻn vào thành Sơn Tây cắm cờ tam tài trên cột cờ
- Cổ Đằng, Vân Mộng : Những địa điểm chiến đấu của nghĩa quân hồi đó.
- Tòng Lệnh, Đông Viên : Địa bàn hoạt động của nghĩa quân nay thuộc huyện
Ba Vì, Hà Tây.
- Đốc Khoát , Đề Công: Các thủ lĩnh nghĩa quân hồi ấy đã bị thất bại.
- rừng Thông, Cầu Giáp : Địa điểm chiến đầu của nghĩa quân).

Nghĩa quân Lãnh Cồ lập được nhiều chiến công oanh liệt. Ông bị giặc Pháp bắt ba lần, cả ba lần ông đều vượt ngục trở về chiến đấu. Ông duy trì cuộc chiến đấu gần bẩy năm. Giặc Pháp gài tên Bình, tay sai của chúng vào hàng ngũ nghĩa quân. Trong trận chiến đấu ở làng Vật Lại ngày 13/6/1889, tên Bình bắn trộm vào sau lưng ông. Ông hy sinh ngay hôm đó. Nhưng trong truyền thuyết dân gian kể: "Trong một trận chiến đấu đẫm máu ở vùng thuộc xã Tiền Phong, tỉnh Sơn Tây, ông bị quân giặc chém gần đứt cổ. Ông giữ cổ cưỡi ngựa chạy đến một quán nước hỏi bà già: "Đầu tôi như thế này liệu sống hay chết?”. Bà hàng nước lắc đầu: "Đầu ông thế này thì chết!”. Thế là đầu Lãnh Cồ tự nhiên rơi xuống đất và ông hoá tại đó. Nhân dân vô cùng thương tiếc người anh hùng, chôn cất tử tế, lập miếu thờ cúng.


Chân Tâm An

Đọc 1328 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 26 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 27 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 28 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

( 26/04/2015 ) « Những doanh nhân Việt trên đất Mỹ

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top