• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


LÊ VĂN THỨ

Lê Văn Thứ còn có tên là Lê Văn Cúc, quê quán xã Tân An, tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nay là phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Ông vốn là một võ tướng thủy quân từ đời vua Thiệu Trị, Quản bát đội suất vệ. Đến đời Tự Đức ông từng chỉ huy thủy quân đánh dẹp giặc biển ở vùng biển Đông bắc.

Từ năm 1858 đến 1873, đất Bắc Hà thường bị quân của Thái bình thiên quốc, Thiên địa hội của miền Hoa Nam chạy sang quấy nhiễu. Ông tham gia nhiều trận đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong lần lượt các chức Phó quản cơ rồi Quản cơ hàm Tứ phẩm.

Trước nguy cơ quân Pháp đánh Bắc Hà lần thứ 2, vua Tự Đức cử Thượng thư bộ binh Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà - Ninh để phòng thủ Hà Nội. Hoàng Diệu biết rõ tài cầm quân của Lê Văn Thứ liền xin vua Tự Đức cho về thành Hà Nội trợ giúp. Ông được triều đình thăng Quyền kinh Hà Nội thủy sư, thăng thự Cấm binh trấn thành Hà Nội.

Ông đã cùng binh lính chiến đấu rất hăng hái và lập được nhiều chiến công song do thế giặc quá mạnh, quân giặc ào ạt tràn vào từ cửa Nam, đánh vào sau lưng nên quân ta bị núng thế. Ông hy sinh ngay trên mặt thành Cửa Bắc, tay vẫn nắm chắc thanh gươm đẫm máu giặc.

Tin Hoàng Diệu tuẫn tiết, Lê Văn Thứ hy sinh báo về kinh đô, vua Tự Đức vô cùng thương tiếc cấp tiền bạc lo tang lễ. Ông được vua Tự Đức ân sủng sai quân lính đưa quan tài về quê an táng. Tự Đức còn ban tặng một chiếc ngai vàng chạm rồng để thờ ông. Mộ ông hiện ở khối Tân An, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng hiện còn có phố mang tên ông.



HỒ BÁ ÔN

Hồ Bá Ôn tự là Công Thúc, hiệu Tùng Viên, sinh năm Giáp Dần (1854) quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, ông là người thông minh, khảng khái.

Ông thi Hương khoa Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870), tại Nghệ An, đỗ cử nhân năm 27 tuổi. Ông đỗ Ất khoa kỳ thi Hội năm Tự Đức thứ 28 (1875) ở tuổi 22. Ông làm đến chức Hàn lâm viện Kiểm thảo, sung Biên tu Nội các rồi Tri huyện Hương Thủy. Năm 1877 thăng hàm trước tác, lĩnh chức Thừa chỉ Nội các rồi chuyển làm Thị độc. Năm Tự Đức thứ 34 (1881), lĩnh chức Án sát Nam Định.

Ngày 25 tháng 4 năm 1882 quân Pháp hạ thành Hà Nội, các quan tỉnh Nam Định đã hội nghị nhận định sớm muộn quân Pháp cũng đánh chiếm tỉnh thành Nam Định và các tỉnh thành khác ở Bắc Kỳ, và lần này chúng sẽ chiếm đóng vĩnh viễn chứ không trao trả như lần trước. Vì vậy các quan tỉnh mà hăng hái nhất là Án sát Hò Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếm đã tích cực chuẩn bị mọi mặt để đối phó với giặc Pháp. Các quan tỉnh đã bất chấp lệnh của triều đình Huế lệnh cho các quân thứ Bắc - Trung Kỳ phải bãi bỏ các hoạt động chống Pháp. Án sát Hồ Bá Ôn cùng các quan tỉnh điều động quân ở các đồn về phòng thủ thành Nam Định.

Ngày 24/2/1883, giặc Pháp đánh chiếm thành Nam Định. Trước hành động xâm lược của giặc, quan quân trong thành và nhân dân các phố phường khẩn trương chuẩn bị tiếp chiến.

Sáng ngày 25/3/1883, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình bắt phải nộp thành ngay sau khi nhận được tối hậu thư của giặc, Vũ Trọng Bình đã triệu tập các quan họp đột xuất. Cũng giống như ở triều đình Huế, quan lại chia làm hai phe chủ hòa và chủ chiến. Giữa lúc căng thẳng đó thì các quan nhận được tin Nguyễn Hữu Bản, con trai Án sát Nguyễn Mậu Kiến và Nguyễn Thành Thà đều đưa lực lượng nghĩa quân đến xin hợp tác cùng quan quân giữ thành. Tổng đốc Vũ Trọng Bình còn do dự thì Án sát Hồ Bá Ôn đã ra lệnh mở cửa thành đón hai đoàn nghĩa quân vào. Nguyễn Hữu Bản và Nguyễn Thành Thà vào thành đã làm cho lực lượng phía chủ chiến thắng thế. Hội nghị quyết định bác bỏ tối hậu thư của Henri Rivière. Tuy vậy khi Vũ Trọng Bình trả lời Henri Rivière vẫn giữ ý tứ mềm mỏng: "Thành do vua ủy thác, không thể giao nộp được!”.

Sáng ngày 25/3/1883, quân Pháp định tấn công thành, nhưng sương mù, không nhìn rõ mọi vật, nên không tấn công được. Chúng cho lính đi trinh sát và tổ chức phá hủy 3 khẩu đại bác ở cổng thành phía Nam, rồi cho quân đổ bộ tấn công. Cửa Đông là nơi quân Pháp tập trung xung lực và hỏa lực tấn công ác liệt nhất. Biết rõ cổng thành phía Đông là mục tiêu đánh phá chủ yếu của giặc, Tổng đốc Vũ Trọng Bình thương ủy cho Án sát Hồ Bá Ôn cùng Đề đốc Lê Văn Điếm trấn giữ. Cùng giữ cổng này với hai ông còn có Nguyễn Hữu Bản chỉ huy dân binh. Các ông chiến đấu dũng cảm, đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc, giết chết nhiều tên. Đến chiều tối chúng phải tháo chạy xuống tầu chiến.

Ngay sau khi giặc tháo chạy, Hồ Bá Ôn cùng các tướng chỉ huy quân và dân củng cố thành, bịt hẳn ba cổng bằng các bao đất đá chỉ để lại cửa Tây.

Bảy giờ sáng ngày 27/3/1883, quân Pháp bắn đại bác gắn dưới tầu cấp tập vào thành, mục tiêu đánh phá chính của chúng vẫn là Cửa Đông - Song dưới sự chỉ huy của án sát Hồ Bá Ôn và Đề đốc Lê Văn Điếm lệnh cho hàng trăm khẩu pháo nã đạn vào tầu giặc... Giữa lúc cuộc chiến đấu diễn ra gay go quyết liệt thì Tổng đốc Vũ Trọng Bình, Án sát Đồng Sỹ Vịnh bỏ thành chạy, Hồ Bá Ôn cùng cha con Nguyễn Thành Thà vẫn dũng cảm chỉ huy quân sĩ. Hồ Bá Ôn trúng đạn bị thương, ông vội buộc vết thương, tiếp tục chỉ huy quân sĩ đánh giặc. Ông lại bị trúng đạn lần thứ hai, ngã lăn ra đất. Khi quân sĩ đưa Nguyễn Thành Thà cũng bị thương ra khỏi thành, Hồ Bá Ôn không khỏi đau xót vì khó mà giữ được thành. Ông bị ngất lịm, quân sĩ khiêng ra ngoài. Khi tỉnh dậy ông biết là thành đã bị lọt vào tay quân Pháp, khí uất xung lên, bệnh càng trầm trọng. Quân sĩ đưa ông xuống thuyền, theo đường biển về quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An phục thuốc. Việc tâu lên, vua ban cho 30 lạng bạc để chữa thuốc. Song vì vết thương quá nặng mới được một tháng thì mất. Năm ấy ông mới 41 tuổi. Vua được tin nói: "Không tránh cái chết mà mất theo thành hơn kẻ tránh cái chết xa lắm”. Rồi chuẩn cho đặc cách truy tặng Quang lộc Tự khanh và chiếu theo hàm mới mà cấp tiền tuất để khuyến khích những người khi lâm sự hết lòng tiết tháo.



NGUYỄN DOÃN CỬ

Nguyễn Doãn Cử, hiệu Bằng Phi sinh ngày 9 tháng 7 năm Tân Tỵ (1821), quê ở thôn Dũng Nghĩa, gần chùa Keo, nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Doãn Cử là người phóng khoáng không chịu gò mình trong khuôn phép sách vở, nên đi thi mấy năm liền không đỗ. Mãi đến khoa thi năm Giáp Tý (1864) khi ông đã 43 tuổi mới đỗ cử nhân. Triều đình bổ ông làm Huấn đạo huyện Thanh Ba, tỉnh Hưng Hóa. Ba năm sau thăng tri huyện Lập Thạch, Tri huyện Hải Lăng. Năm 1874, Nguyễn Doãn Cử được triều đình bổ nhiệm làm Tuần phủ Sơn - Hưng - Tuyên cùng các quan văn võ triều đình cử lên lo việc phòng thủ. Nguyễn Doãn Cử đã cùng các tướng tiễu phỉ, củng cố thành lũy, trang bị vũ khí mới, khai khẩn đồn điền, ổn định đời sống nhân dân và duy trì phép nước nghiêm minh.

Tháng giêng năm Tự Đức thứ 32 (1879), ông được triệu về triều làm giảng quan phủ Tôn nhân, thăng Hàn lâm viện Thị giảng, sung chức Biên tu Quốc sử quán. Bất chấp trước việc triều đình đầu hàng giặc Pháp, năm Tân Tỵ (1881), ông 60 tuổi, mượn cớ sức khỏe kém xin hưu trí.

Đầu năm Quý Mùi (1883), Tổng đốc Vũ Trọng Bình làm sớ tâu với Tự Đức để Nguyễn Doãn Cử và Nguyễn Hữu Bản đưa hương binh vào giữ thành Nam Định. Sáng ngày 27/3/1883, quân Pháp từ tầu chiến bắn đại bác dồn dập vào thành. Quân ta kiên cường chiến đấu. Đề đốc Lê Văn Điếm hy sinh, Án sát Hồ Bá Ôn bị trọng thương đưa về quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An 2 tháng thì chết. Nguyễn Doãn Cử, Nguyễn Hữu Bản giữ cửa Đông là cửa quân Pháp tấn công ác liệt nhất. Quân Pháp bắn đạn đại bác sập cổng thành, đè lên người Nguyễn Hữu Bản, ông hy sinh. Nguyễn Doãn Cử động viên quân sĩ quyết tâm tiêu diệt thật nhiều quân Pháp trả thù cho chủ tướng. Tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ thành chạy, nhưng trước đó còn cho người tới Cửa Đông gọi ông về dinh để tránh nguy hiểm cho ông. Nguyễn Doãn Cử khảng khái trả lời: "Người về thưa với quan Tổng đốc rằng ta không thể rời bỏ nơi này và các nghĩa sĩ của ta. Xin đa tạ”.

Đến trưa ngày 27/3/1883 thành vỡ, Nguyễn Doãn Cử cùng quân triều đình rút qua cửa Tây, giao quyền chỉ huy cho Bang Úc. Bang Úc phá vây rút về Thái Bình giữ phòng tuyến sông Hồng. Nguyễn Doãn Cử bị ốm phải nghỉ dưỡng bệnh, cử con trai là Nguyễn Doãn Chí cùng Bang Úc giữ tuyến phòng thủ sông Hồng.

Sau khi thành Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Phủ Lý thất thủ, vua Tự Đức chết, Nguyễn Doãn Cử sống trong tâm trạng đau buồn.

Năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn tấn công tòa Khâm sứ Pháp, đồn binh Pháp ở Mang Cá thất bại, liền hộ giá vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương. Nguyễn Doãn Cử khi đó đã 64 tuổi, bị ốm yếu, nhận được tin trên, ông phấn khởi, bật khỏi giường, lệnh gọi con trai cả là Nguyễn Doãn Chí đến bảo: "Mệnh thày chưa hết, thày sẽ khỏe để cùng mọi người cứu dân, cứu nước theo chiếu Cần vương. Thày rất mừng vì học trò của thày là Ưng Lịch - Vua Hàm Nghi đã thoát khỏi sự khống chế của phái chủ hòa, giương cao ngọn cờ cứu nước”.

Nguyễn Doãn Cử qua đời ngày 12 tháng 2 năm Canh Dần (1890). Nguyễn Doãn Cử được phụ tế vào bậc tiền hiền trong văn chỉ hàng xã, văn từ hàng huyện và được nhiều gia đình ở Giao Thủy, Thư Trì, Vũ Tiên thờ phụng. Có người đã nói: "Ông sống nghiệp văn, chết được đưa tiễn bằng văn và lưu danh sử sách”.



NGUYỄN QUANG BÍCH

Nguyễn Quang Bích nguyên họ Ngô, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh giờ Thìn ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (7/5/1832). Ông người làng Trình Phố, huyện Chân Định, sau đổi là Trực Định, phủ Kiến Xương, nay là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông thông minh, học giỏi, nhưng mãi đến năm 27 tuổi mới thi đỗ tú tài. Năm Tân Dậu (1861), đỗ cử nhân, được bổ làm giáo thụ phủ Trường Khánh (Ninh Bình). Được hơn một năm, cha mất, ông ở nhà cư tang, dạy học. Khoa thi Mậu Thân (1868) ông thi Hội hỏng. Khoa thi Hội năm Kỷ Tỵ Tự Đức 22 (1869) nhân có khoa ân thi, ông thi đỗ Nhị giáp tiến sĩ Đình nguyên, lúc đó ông 38 tuổi. Ông được triều đình bổ nhiệm làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), sau thăng Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ). Vùng này trước đây mất an ninh, từ ngày ông về nhận chức thực hiện nhiều cải cách, thưởng người có công, trị kẻ có tội nghiêm minh, nên toàn huyện yên ổn, không có trộm cướp. Vì có tài trị an, ông được thăng Án sát Sơn Tây. Ông làm quan thanh liêm, thường trị quan lại nhũng nhiễu dân, được dân cư mến mộ. Giặc Pháp xâm lược, ông liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc, tiến cử Lưu với triều đình làm "Bảo hưng phòng ngự sứ”. Lưu Vĩnh Phúc kính trọng ông vào bậc thầy.

Sau đó ông được gọi về triều làm Tế tửu Quốc tử giám. Năm 1873, vua Tự Đức giao cho ông duyệt bộ Việt sử thông giám cương mục. Sau đó ông được bổ làm án sát Bình Định. Khi triều đình lập ban Doanh điền ở Hưng Hóa, Tự Đức cử ông làm Chánh sứ Sơn phòng Hưng Hóa. Năm Bính Tý (1876), ông được hàm Tuần phủ Hưng Hóa. Ông luôn luôn chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Nhân dân gọi ông là Hoạt Phật (Phật sống). Trong thời gian ông giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa, giặc Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ 2 (25/4/1882), Nguyễn Quang Bích đã báo cáo ngay về triều đình dư luận Bắc Kỳ lo ngại vì quân Thanh kéo sang ngày càng đông. Nhưng Tự Đức không
nghe mà còn trách ông: "Đem lòng tiểu nhân để đo bụng người quân tử, lẽ nào người Thanh lại làm các cử động vô nghĩa ấy”.

Từ ngày 1 đến ngày 3/9/1883, quân Pháp tiến đánh Sơn Tây, thành Sơn Tây thất thủ, Hoàng Kế Viêm rút về thành Hưng Hóa, có cả quân Lưu Vĩnh Phúc, quân Thanh ở Vân Nam, Quý Châu đóng giữ. Nguyễn Quang Bích khi đó là Tuần phủ kiêm trấn thủ Hưng Hóa đưa quân của Bố chánh Nguyễn Văn Giáp từ Lâm Thao sang hợp lực.

Đến tháng 3/1884 hầu hết các tỉnh Bắc Kỳ đều lọt vào tay quân Pháp chỉ còn thành Hưng Hóa. Thành Hưng Hóa trở thành tỉnh lỵ của Tam Tuyên (Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang) án ngữ đường thủy sông Thao, đường bộ đi Hòa Bình, Nghĩa Lộ. Trong thành có quân triều đình do Thống tướng Hoàng Kế Viêm chỉ huy; quân Tam Tuyên do Nguyễn Quang Bích chỉ huy, quân Thanh do Sầu Dục Anh, chỉ huy quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đóng.

Ngày 12/4/1884, thiếu tướng Négrier chỉ huy vượt sông Đà ở quãng Hạ Bì - La Thượng (nay thuộc xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Lúc đó lực lượng quân đội triều đình có quân chủ lực của triều đình do Hoàng Kế Viêm chỉ huy; quân đội địa phương do Nguyễn Quang Bích chỉ huy; hai đạo quân của nhà Thanh do Sầm Dục Anh, Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy. Song do triều đình nhà Nguyễn đầu hàng nên Hoàng Kế Viêm rút quân vào Thanh Sơn, quân nhà Thanh rút khỏi Hưng Hóa, trong thành chỉ còn lực lượng do Nguyễn Quang Bích chỉ huy. Quân Pháp tấn công, thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích rút quân về Tiên Động xây dựng căn cứ kháng chiến. Tiên Động là vùng hiểm trở có thể rút vào Yên Lập, triển khai xuống Cẩm Khê, lên Hạ Hòa, sang Thanh Ba được. Ông được vua Hàm Nghi phong Lễ bộ Thượng thư, sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần Trung hầu. Cho phép ông được quyền lựa chọn, cất nhắc quan văn từ Tham tán, quan võ từ Đề đốc trở xuống được quyền tùy nghi tuyển dụng. Nghĩa quân Nguyễn Quang Bích ở căn cứ Tiên Động phải chống chọi với nhiều cuộc tấn công của quân Pháp, có tháng nghĩa quân phải đánh trả tới 15 cuộc tấn công.

Giặc Pháp và tay sai không đánh thắng ông được trên mặt trận quân sự đã cho ngụy bố chính Hưng Hóa là Bùi Quang Thích và ngụy tri phủ Lâm Thao là Nguyễn Khắc Hợp lần lượt đến dụ hàng, nếu chịu giải quân ra làm quan, trở về làng sẽ được cấp hậu bổng. Sau đó thực dân Pháp lại cho bọn tay sai đầu sỏ viết thư dụ dỗ ông ra hàng sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Ông viết thư trả lời với giọng đanh thép: "... Nếu mà thắng mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết thì cũng là quỷ thiêng giết giặc”.

Giặc Pháp bắt mẹ ông bỏ tù, ông vẫn kiên quyết ở lại kháng chiến.Không đánh được Nguyễn Quang Bích bằng vũ lực, giặc Pháp cho tên bố chính Hưng Hóa Bùi Quang Tín, tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp đến dụ dỗ bị Nguyễn Quang Bích cự tuyệt

Tháng 11/1887, quân Pháp bất ngờ ập đến đánh, ông và Nguyễn Văn Giáp phải đi lánh mỗi người một nơi. Tháng 3 năm Mậu Tý (4/1888) quân Pháp huy động lực lượng lớn, dùng chiến thuật giương đông, kích tây. Một mặt chúng cho 40-50 quân kéo đến đánh đồn bên Tả để thu hút lực lượng nghĩa quân. Mặt khác quân Pháp bắt người địa phương dẫn đường cho toàn bộ quân Pháp xuyên qua đèo Lao Khê, Nha Sơn tấn công vào phía sau đồn Đèo Ách - nơi Nguyễn Quang Bích và bộ tham mưu đóng và chiếm được đồn Đèo Ách.

Trước sự tấn công ác liệt của địch, Nguyễn Quang Bích và các tướng phải tránh vào các động Mèo rồi rút quân về thủ hiểm ở châu Phù Sa (tức huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ). Khi giặc rút, Nguyễn Quang Bích trở về căn cứ.

Quân thứ nghĩa quân phải di chuyển luôn tháng 5/1888 (tháng 4 năm Mậu Tý) ông phải rút về Sơn Động. Để tránh các cuộc càn quét của quân Pháp, tháng 8/1888 phải dời đến châu Yên Lập. Tại đây Nguyễn Quang Bích đánh nhiều trận lớn, Đề Thành, Đề Mạc là những viên tướng đánh nhiều trận tập kích xuất sắc Trong hơn 1 năm, nghĩa quân đánh thắng quân Pháp nhiều trận, song sức khỏe của Nguyễn Quang Bích ngày càng sa sút.

Tháng 9/1889 ông thấy bệnh tình của mình ngày càng trầm trọng, khó lòng qua khỏi, ông dặn con cháu đi theo phục dịch việc quân: “Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích; sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thắt hãm làm ngày giỗ ta”.

Nguyễn Quang Bích đòi Pháp trả lại thành, đặt lại vua Hàm Nghi thì mới có hòa hảo được.

Trong những năm kháng chiến, ông đã cùng nghĩa quân làm thất điên bát đảo quân giặc. Do tuổi cao, hành quân, chiến đấu liên tục, ăn uống kham khổ, sống trong vùng nước độc, sơn lam chướng khí, nên ông bị đau yếu liên miên. Tuy vậy ông vẫn gắng gượng cùng các tướng chỉ huy nghĩa quân chống các cuộc tấn công của giặc bảo vệ căn cứ. Tháng 11/1889, ông truyền lệnh cho các tướng lĩnh và các quân thứ phải chuẩn bị đầy đủ vũ khí, lương thực cho cuộc tấn công lớn vào năm sau. Không ngờ ngày 15 tháng chạp năm Canh Dần (1/1890), ông đột nhiên chuyển bệnh nặng rồi mất tại đại bản doanh nghĩa quân ở núi Tôn Sơn, khi mới 54 tuổi.



NGUYỄN VĂN GIÁP

Nguyễn Văn Giáp người làng Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông đỗ cử nhân được cử giữ chức Bố chính Sơn Tây nên gọi là Bố Giáp. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thành Sơn Tây có sự chỉ huy dũng cảm, mưu trí của Bố chính Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp.

Tháng 8/1885 Nguyễn Quang Bích thừa lệnh vua Hàm Nghi đi sứ Trung Quốc cầu viện thì Nguyễn Văn Giáp trực tiếp nắm quyền chỉ huy tối cao phong trào chống Pháp ở các tỉnh trung du Bắc Kỳ. Nguyễn Văn Giáp xây dựng căn cứ ở Thanh Mai từ đó hoạt động mạnh ở lưu vực sông Lô, sông Thao trên đường từ Việt Trì đi Thanh Ba lên tận Nghĩa Lộ. Một vinh dự cho Bố chính Nguyễn Văn Giáp cũng như lực lượng kháng chiến vùng sông Thao, sông Lô là ngày 10 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi thăng Bố chính Nguyễn Văn Giáp chức Tuần phủ Sơn Tây, sung Tham tán Hiệp đốc Bắc Kỳ quân vụ.

Giặc Pháp đã mở nhiều cuộc càn quét lớn để diệt nghĩa quân song không thực hiện được. Vì vậy, trong các căn cứ quân sự của các thủ lĩnh nghĩa quân ở hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên giặc Pháp coi cứ điểm quân sự Thanh Mai của Nguyễn Văn Giáp là nguy hiểm số 1. Nhằm tiêu diệt cứ điểm quan trọng này bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ điều động trên 6000 quân, có đại bác, tầu chiến, công binh yểm trợ tới mức tối đa do tên tướng Giame chỉ huy tiến đánh Thanh Mai. Quân Pháp chia làm ba mũi tiến quân.

Nghĩa quân Nguyễn Văn Giáp chặn đánh giặc từ xa. Đạo quân thứ ba của quân Pháp khi đến Thạch Sơn, đã bị đội quân tiền tiêu do Tán Dật chỉ huy đánh trả dữ dội. Đạo quân thứ nhất và thứ hai cũng bị nghĩa quân chặn đánh ghìm chúng tại chỗ. Vì thế mà chúng tiến quân từ sáng 23/10/1885 nhưng mãi đến ngày 25/10/1885 chúng mới vào được Thanh Mai. Đến đâu chúng cũng bị đánh, nhiều tên bỏ mạng tại vùng phụ cận Thanh Mai, trong đó có tên quan ba pháo binh Piétri Camille, chúng không đem xác đi được phải chôn tại chỗ.

Khi quân Pháp lọt được vào Thanh Mai, thì nghĩa quân lợi dụng đêm tối dùng thuyền nhẹ bơi qua đồng nước rút khỏi các vị trí chiến đấu. Những nghĩa quân hy sinh được chôn cất, người bị thương được đem đi theo cùng toàn bộ vũ khí.

Rút khỏi Thanh Mai, nghĩa quân phân tán làm hai lực lượng: Nguyễn Văn Giáp sang Tiên Động hợp lực với Nguyễn Quang Bích; Tán Dật ngược sông Hồng lên xây dựng căn cứ mới ở Lang Sơn, Phi Đình, huyện Hạ Hòa.

Sau khi tới căn cứ Tiên Động, Nguyễn Văn Giáp nhiều lần đưa quân đi đánh Cẩm Khê, đánh các đồn lẻ của quân Pháp dọc sông Hồng. Nguyễn Văn Giáp cùng các tướng bảo vệ vững chắc căn cứ Tiên Động. Tên đại úy Lơ Bicô (Le Bico) nhiều lần đem quân tấn công Tiên Động đều bị nghĩa quân đánh cho đại bại.

Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp nhận định Tiên Động có địa hình hiểm trở, thuận tiện cho công tác phòng thủ, nhưng quá chật hẹp, khó phát triển và liên hệ với các nơi, nên hai ông chủ động rút về xây dựng căn cứ mới ở Nghĩa Lộ để tác chiến lâu dài. Biết rõ thế nào quân Pháp cũng đuổi theo, ông cử Nguyễn Văn Giáp đi sau chặn giặc. Song quân Pháp được tăng viện, truy kích, Nguyễn Văn Giáp phải đưa quân rút lên Sa Pa, rồi chuyển sang hoạt động ở Lai Châu.

Tháng 7/1887, Nguyễn Văn Giáp vào tận Nghệ An phát động đồng bào các dân tộc ở miền Tây nổi dậy chống Pháp.

Tháng 10/1887 ông trở lại Nghĩa Lộ hoạt động quân sự ở Nghĩa Lộ, Yên Bái, lưu vực sông Đà. Hàm Nghi năm thứ 3, tháng 10 (11/1887) Nguyễn Văn Giáp hy sinh tại căn cứ.

 

Chân Tâm An

Đọc 1088 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 25 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 26 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 27 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 28 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

( 10/07/2015 ) « Tiến sĩ Chu Hoàng Long

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top