• Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (... - 1300)
    Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道; ? - 20 tháng 8, 1300), còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một nhà chính trị, nhà văn cũng như là Tư lệnh tối cao…
  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    Lý Thường Kiệt[1] (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một hoạn quan đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đầu tiên viết ra tác…
  • Lê Đại Hành (980-1010)
    Lê Đại Hành (980-1010)
    Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Đại Hành có tên húy là Lê Hoàn. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến 1005. Ông là vị hoàng đế nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu…

Phần 40 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam


ĐỐC NGỮ

Đốc Ngữ tên thật là Nguyễn Đình Ngữ, sinh năm 1850, quê ở làng Xuân Vân, tổng Xuân Trù, nay thuộc xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Ông đi lính, sau giữ chức cai đội trong quân đội của Thống tướng Hoàng Kế Viêm đóng ở thành Sơn Tây. Ông tiễu phỉ lập được nhiều công lao, được phong là Đốc binh.

Từ năm 1880, Đốc Ngữ chỉ huy một đội quân đóng ở thành Sơn Tây. Ông tham gia đánh trận Cầu Giấy lần thứ 2, ngày 19/5/1883 giết chết Henri Rivière.

Sau Hiệp ước Harmand, Hoàng Kế Viêm theo lệnh triều đình rút quân về Huế, Đốc Ngữ ở lại cùng Bố chính Nguyễn Văn Giáp giữ thành Sơn Tây. Khi quân Pháp bại trận ở Phùng, Bố Giáp giao cho ông bảo vệ chiến lũy Phù Sa, tiền đồn của thành Sơn Tây. Sau khi chiếm Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh... thì một mục tiêu quan trọng cần phải đánh chiếm của quân Pháp là đánh chiếm thành Sơn Tây. So sánh lực lượng lúc đó thì quân Việt trong thành Sơn Tây có 25.000 người (kể cả quân Cờ Đen). Quân Pháp ở Bắc Kỳ khi đó có 8.000 quân, không kể thủy binh trên một số pháo hạm do Thiếu tướng Hải luân Cuốcbê (Courbet) chỉ huy.

Phán đoán quân Pháp tiến đánh Sơn Tây (cách sông Hồng 1000 mét). Quân Việt bố trí phòng thủ ở Phù Sa (thuộc huyện Phú Lộc, phủ Quảng Oai, Sơn Tây). Chỉ huy đồn Phù Sa là Đốc Ngữ.

Bẩy giờ sáng ngày 14 tháng 12 năm 1883, pháo binh Pháp bắn dữ dội vào thành Phù Sa, rồi tấn công Phù Sa bằng hai mũi. 11 giờ quân Pháp chiếm được xóm Chiêu thuộc Phù Sa, 13 giờ chúng đến cách chân thành Phù Sa 500 mét, chúng bắn pháo dữ dội vào khu vực đặt thần công của quân Việt. 14 giờ Hoàng Kế Viêm phái một cánh quân từ thành Sơn Tây đánh tạt sườn quân Pháp, nhưng không đẩy lùi được chúng. 16 giờ quân Pháp nổi kèn xung phong, Đốc Ngữ thân chỉ huy quân thành Phù Sa kháng cự mãnh liệt đẩy lùi nhiều đợt xung phong của giặc. Chỉ trong ngày 14 quân đồn Phù Sa đánh thương vong 250 quân Pháp, trong đó có 13 sĩ quan. Đêm 14 rạng ngày 15 Đốc Ngữ nhiều lần tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, song không đẩy lùi được chúng. Sáng ngày 15 thấy không thể đánh lui được quân Pháp, Đốc Ngữ được lệnh rút về thành Sơn Tây.

Rạng sáng ngày 15/12, Cuốcbê cho quân nghi binh ở cửa Bắc rồi tấn công cửa Tây. Chúng còn cách cửa Tây khoảng 300 mét thì bị quân trong thành bắn ra dữ dội, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề. Nhưng đến 17 giờ 45 phút quân Pháp phá được cổng thành cửa Tây, tràn vào thành. Cuộc chiến đấu giáp lá cà diễn ra suốt đêm.

Tảng sáng ngày 17/2, quân Việt đốt hết kho lương thực, súng đạn rồi rút về phía Bắc thành Sơn Tây. Kết thúc chiến dịch, quân Pháp chết và bị thương khoảng 350 tên, trong đó có 22 sĩ quan, phía quân Việt chết khoảng 2.000.

Thành Sơn Tây bị quân Pháp chiếm. Năm 1887, thủ lĩnh Nguyễn Văn Giáp hy sinh, Nguyễn Đình Ngữ tập hợp quân sĩ; chiêu mộ thanh niên dân tộc Việt, dân tộc Mường ở các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy và vùng bên kia sông Đà tiếp tục đánh Pháp. Nghĩa quân của ông hoạt động mạnh ở Hòa Bình, Sơn Tây, làm chủ vùng Chợ Bờ, Yên Lãng. Với cương vị là phó tướng đạo Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình), ông nhiều lần đưa quân đột nhập vào Hà Nội, Hà Nam ngày nay tập kích các đồn binh Pháp, tiễu trừ bọn việt gian thân Pháp. ông phát động nhân dân chống quân Pháp bắt lính, bắt phu.

Đốc Ngữ là một viên tướng xuất sắc, các tướng tá Pháp mặc dù không muốn, chúng cũng phải ca ngợi; trung tướng Pennequin viết trong báo cáo của hắn: “Trong cuộc khởi nghĩa của người An Nam, các thủ lĩnh của họ đã chỉ huy quân đội như là những sĩ quan cừ khôi. Họ biết lựa chọn và sử dụng địa hình, sắp xếp quân lính. Bản thân tôi đã trông thấy Đốc Ngữ điều binh. Ông đã biết chọn vị trí bảo vệ mạng sườn cho quân mình, nhìn ra điểm yếu trong đội hình tấn công của quân ta. Phải chăng đến ngày nay (năm 1911) chúng ta vẫn còn thấy Đề Thám bất khuất trong cuộc chiến đấu, không bao giờ nản chí. Đây là một người anh hùng đáng được chúng ta hết lòng khâm phục cũng như tất cả người An Nam khâm phục ông ta”.

Một sĩ quan Pháp khác từng đem quân đánh nhau với Đốc Ngữ cũng phải viết về ông với những lời lẽ khâm phục:
"Những ai theo dõi, từ năm 1889, lịch sử của những trận nội chiến (những cuộc hành quân càn quét của giặc Pháp) của chúng ta đều nhớ lại rằng: hơn hẳn, mọi người khác, Đốc Ngữ là người quyết liệt nhất và may mắn nhất trong số những kẻ thù của chúng ta (người Pháp). Đốc Ngữ chiếm được ở người An Nam một uy tín và một ảnh hưởng mà không một người Pháp hay người bản xứ nào có thể sánh bằng. Rất khôn khéo, chỉ tấn công khi nắm chắc thắng lợi, không bao giờ chịu lùi bước trước những lực tượng to lớn của quân đội Pháp. Đốc Ngữ bao giờ cũng lừa đánh chúng ta một đòn đẫm máu... Một lần vào tháng 3 năm 1891, ông ta phải lùi bước lực lượng của chúng ta, nhưng sau 7 giờ chiều đấu liền và không hề rơi vào tay chúng ta một người bị thương hay một khẩu súng. Chúng ta phải đương đầu với một kẻ thù ghê gớm, biết chỉ huy và chiến đấu giỏi”.

Với chính sách chia rẽ người Việt (Kinh) với đồng bào các dân tộc thiểu số, quân Pháp dùng tiền, gái, thuốc phiện, chức tước mua chuộc các tên Đinh Văn Lan, Đinh Văn Thiệu làm phản. Tháng 8/1892, bọn chúng lại lẻn vào bản bộ ám sát Đốc Ngữ và 9 tướng tâm phúc.

Đồng bào các dân tộc Việt - Mường - Dao vô cùng thương tiếc vị thủ lĩnh đánh Pháp xuất sắc và rất mực thương dân. Cái chết của ông và của các tướng tâm phúc khiến cho lực lượng nghĩa quân tan rã.

Nhớ ơn Đốc Ngữ, đồng bào dân tộc Mường và Dao đã lập đền thờ ông ở Suối Trùng, xã Tân Lập. Làng Xuân Vân cũ, xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây bị lở xuống sông Hồng, nhân dân chuyển đến nơi ở mới cũng lập đền thờ ông - người con ưu tú của quê hương.



TRẦN VÀNG

Trần Vàng sinh ngày 28 tháng 4 năm Kỷ Sửu (1829) tại làng Kiều Mộc, tổng Kiên Mộc, huyện Tiên Phong, phủ Quốc Oai, nay là xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Ông được cha cho học võ ở một lò võ nổi tiếng ở xứ Đoài. Chẳng bao lâu ông thông thạo thập bát ban võ nghệ và giỏi cả môn vật.

Năm Tự Đức thứ 10 (Mậu Ngọ - 1858), Trần Vàng thi đậu cử nhân võ. Trải qua ba lần tấn phong, đến năm Tự Đức thứ 25 (1873) ông được triều đình phong chức Tam Tuyên đề đốc quân vụ đứng đầu hàng quan võ ba tỉnh Sơn - Hưng - Tuyên.

Năm 1882, thành Hà Nội thất thủ lần thứ 2, giặc Pháp đánh lên Sơn Tây. Trần Vàng theo lệnh của Thống tướng Hoàng Kế Viêm đưa quân về Đại Phùng cùng các tướng chặn đánh quân Pháp. Quân Pháp thua, phải rút chạy đem theo hàng trăm xác chết, trong đó có 10 tên từ quan tư trở xuống.

Bẩy giờ sáng ngày 14/12/1883, tên thiếu tướng hải quân Courbet sai tên đại tá Bisô và tên trung tá Bơlanh chỉ huy tấn công thành Phù Sa bằng hai mũi. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, quân Pháp bị thương vong tới 250 tên, trong đó có 13 sĩ quan mới chiếm được thành Phù Sa. Song quân ta cũng bị tổn thất, nên ngày 15/12/1883 phải rút vào thành Sơn Tây. Từ chiều 15/12, quân Pháp tập trung hỏa lực và công binh phá thành Sơn Tây. Quân ta dũng cảm chiến đấu, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Nhưng tới ngày 17/12/1883 thành Sơn Tây thất thủ.

Thành Sơn Tây thất thủ, Trần Vàng kéo quân về đóng ở vùng đồi núi, sông nước Tiên Phong tỉnh Sơn Tây. Nghĩa quân của ông hoạt động mạnh mẽ ở Lâm Thao, Thanh Sơn, (Phú Thọ). Sau đó ông đóng đại đồn ở Đồn Vàng, nay là huyện lỵ Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ củng cố, phát triển lực lượng đánh Pháp.

Giặc Pháp mua chuộc được một tên phản bội trong nghĩa quân chỉ điểm, dẫn đường cho quân Pháp vào bắt ông ở làng Mai Đình. Chúng giải ông xuống thuyền ở ngã ba Bạch Hạc. Trần Vàng giậm chân cho đắm thuyền để tự tử nhưng không thoát. Chúng canh gác cẩn mật, ông không tự tử được. Đến bến Sơn Tây, chúng áp giải ông vào thành Sơn Tây, nhưng ông đã cắn lưỡi tự vẫn, quyết không để kẻ thù làm nhục. Thi hài ông được nhân dân Sơn Tây mai táng tại đồng Mát, Sen Chiểu, huyện Phúc Thọ. Sau con cháu cải táng đưa về an táng ở đồng đất quê hương Cố Đô. Nhân dân Cố Đô lập miếu thờ người con anh hùng của quê hương. Đến nay, vùng Sơn Tây, Hưng Hóa vẫn còn truyền tụng câu ca:

Quân ai như quân Trần Vàng
Khiến cho giặc Pháp kinh hoàng nhiều phen



TÁN DẬT

Tán Dật tên thật là Lê Đình Dật, là một trong số thủ lĩnh quân sự ở thành Sơn Tây. Khi thành Sơn Tây thất thủ, Tán Dật cùng với Bố chính Nguyễn Văn Giáp, Lãnh Mai (Nguyễn Bá Như) rút về Lâm Thao xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng Thanh Mai, Thạch Sơn. Tán Dật đã đem quân từ Thanh Mai đi đánh phá các đồn binh Pháp ở Lâm Thao.

Tháng 7/1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương đã sai sứ giả tới Tiên Động phong cho Nguyễn Quang Bích là Lễ bộ Thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần chủ trương phong trào Cần vương ở Bắc Kỳ. Khi ấy thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa ở các nơi về hội kiến, trong đó có Tán Dật.

Ngày 22/10/1885, quân Pháp chia làm ba đường tấn công căn cứ Thanh Mai. Sau ba ngày kịch chiến với giặc, nghĩa quân rút khỏi Thanh Mai. Nguyễn Văn Giáp sang Tiên Động hợp sức với Nguyễn Quang Bích; Tán Dật ngược sông Hồng xây dựng căn cứ mới ở Lang Sơn - Phú Đình thuộc Hạ Hòa.

Tán Dật đã chủ động liên hệ hợp tác với các thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa khác ở Hạ Hòa như Đề Thân ở Ấm Thượng, Đề Ngàn, Đề Mạc, Lãnh Hặc ở Mai Tùng; Lãnh Khanh ở Xuân Áng, Lãnh Tháp ở Bảo Toàn…

Từ cuối năm 1885 đến năm 1890, nghĩa quân Tán Dật đã cùng các lực lượng nghĩa quân khác ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay liên tục tiến đánh quân Pháp và chống càn thắng lợi.

Sang năm 1892, Tán Dật nhiều lần đem quân đánh vào cứ điểm Ngòi Lao của quân Pháp do tên đại úy Bécna Môngty chỉ huy.

Sau khi Đốc Ngữ hy sinh, nhiều thủ lĩnh nghĩa quân bị sa vào tay giặc Pháp như Lãnh Mai bị tay chân làm phản, bắt nộp cho Pháp, chúng xử chém ông ở Sơn Tây. Lãnh Hặc (Hồ Văn Hặc - Mai Tùng) bị giặc Pháp bắt được giết ngay ở đình làng. Giết xong, chúng cắt đầu ông treo ở cửa đình để uy hiếp nhân dân. Lãnh Đa bị quân Pháp bắn chết khi ông vượt sông Hồng. Tán Dật bị bức đến cùng, ngày 25/3/1893, Tán Dật phải ra hàng ở đồn Ngòi Lao để cứu các con và những thân nhân bị bắt. Khi các con được trả tự do, ông nói: “Ta hàng vì triều đình đã hàng, chứ nhất định ta không chịu nhìn mặt thằng Tây” . Nói rồi ông uống thuốc độc tự tử.



VƯƠNG VĂN DOÃN

Nguyễn Quang Bích khởi nghĩa đánh Pháp, có hai tướng trợ giúp đắc lực là Đốc Ngữ, Đề Kiều và nhiều Lãnh binh, đề đốc khác. Trong số tướng lĩnh đó thì Lãnh binh Vương Văn Doãn là người dũng cảm, mưu trí, có tài cầm quân, lấy ít địch nhiều, xuất quỷ nhập thần. (Sách Lịch sử tỉnh Vĩnh Phú gọi ông là Đề Vương). Tháng 10 năm 1878, Bố chính Nguyễn Văn Giáp hy sinh ở căn cứ Nghĩa Lộ, đây là tổn thất lớn cho nghĩa quân. Để bảo toàn lực lượng, đầu năm 1888, Nguyễn Quang Bích phải chuyển quân về xây dựng căn cứ mới ở Mộ Xuân, Yên Lập, cũng ở tỉnh Hưng Hóa.

Lãnh binh Vương Văn Doãn cho quân đi thám thính thấy giặc Pháp đóng ở đồn Hưng Hóa có nhiều sơ hở. Nếu xuất kỳ, bất ý tiến đánh thì cầm chắc thắng lợi, giết được địch, cướp được vũ khí trang bị cho nghĩa quân. Với quyết tâm đột kích đồn Hưng Hóa, Lãnh Doãn trình báo với Hiệp thống Nguyễn Quang Bích là ở dọc huyện Cẩm Khê có nhiều giặc cướp xin đi tuần phòng để ngăn trừ. Nguyễn Quang Bích tin là thật mới điều động cho 30 nghĩa quân và cấp giấy cho đi, lại cho cả Đốc binh Lê Duy Tiên đi cùng. Vương Văn Doãn dẫn 30 nghĩa quân đến Tăng Xá, bàn mưu với Đốc binh Lê Duy Tiên, để cho Tiên nửa số quân đi tuần, còn mình dẫn 15 nghĩa quân trang bị chỉ có 4 khẩu súng và 12 quả thủ pháo xuôi theo sông Hồng. Vương Văn Doãn dẫn quân vào cổng trại giặc hạ thủ tên lính gác. Tên này cố kêu to báo động. Bọn Pháp đóng trong đồn biết có động, bật đèn điện sáng trưng. Vương Văn Doãn cùng nghĩa quân ở ngoài cổng, trời tối nhìn vào đồn rất rõ, không cho địch kịp trở tay, Lãnh Doãn ném thủ pháo và bắn xả vào quân Pháp. Tên quan ba giám binh và mấy chục tên Pháp bị giết chết. Bọn sống sót bỏ chạy tán loạn tháo thân. Doãn hô xung phong, anh em tràn vào đồn, không ham truy kích bọn đang chạy trốn mà tước được 40 khẩu súng, 2 hòm đạn rồi rút nhanh xuống thuyền. Doãn không cho thuyền đi dưới sông mà cho thuyền khảm sang bên Lâm Thao, rồi chuyển chiến lợi phẩm lên bộ đi đường rừng tránh địch truy tìm. Để giữ bí mật, ban ngày Doãn cho anh em nghỉ ở trong rừng, không tiếp xúc với bên ngoài, ban đêm mới đi. Phải hết 5 ngày đêm mới về đến căn cứ Mộ Xuân.

Lãnh binh Vương Văn Doãn trình báo với chủ tướng Nguyễn Quang Bích, nộp chiến lợi phẩm và xin chịu kỷ luật. Hiệp thống Nguyễn Quang Bích thấy thắng lợi quá lớn, quân ta diệt được mấy chục tên Pháp cả tên quan ba giám binh, thu được tới 40 khẩu súng và hai hòm đạn là một thắng lợi rất lớn, rất quan trọng, nên Hiệp thống chỉ trách Lãnh Doãn khinh xuất. Quan Hiệp thống xét tài năng và ý chí đánh giặc của Lãnh Doãn phong cho ông làm Hành dinh phó Đề đốc.



NGÔ QUANG ĐOAN

Ngô Quang Đoan là con cả quan Thượng thư Nguyễn Quang Bích. Quê ở làng Trình Phố, phủ Trực Định, nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ, Ngô Quang Đoan đã thông minh giỏi cả cầm, kỳ, thi, họa. ông tự chế ra cây đàn nguyệt và cây đàn này gắn bó với ông suốt đời. Ngô Quang Đoan là người tinh thông võ nghệ, sử dụng được các loại vũ khí cổ truyền và cả súng bắn nhanh của phương Tây. Ông còn tài cưỡi ngựa, sai khiến được tất cả những con ngựa bất kham.

Năm 1882, giặc Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai; năm 1883 quân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình... Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, Đốc học Nam Định đã bí mật tổ chức lực lượng nghĩa quân phần lớn là học trò của mình, trong đó có Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan, Ngô Quang Đoan. Nghĩa quân chủ trương đánh úp thành Nam Định. Vũ Văn Báo quê ở làng Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam cũng là học trò Vũ Hữu Lợi dò biết đã mật báo váo Pháp, để bắt sống cụ Nghè Vũ Hữu Lợi và chém cụ đúng vào chiều 30 tết. Vũ Văn Báo do mật báo với Pháp bắt được cụ Nghè được Pháp thăng Tổng đốc Nam Định. Nghĩa quân vô cùng căm giận, tìm cách giết Báo trả thù cho thày, lập mưu đóng giả làm lính Tây đi tuần đột nhập vào nhà Báo ở xã Nghĩa Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam bắt hắn đưa về căn cứ lập đàn tế thày.

Cuối năm 1889, đầu năm 1890, các thủ lĩnh nghĩa quân phủ Thái Bình như Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan... lần lượt hy sinh. Ngô Quang Đoan còn quá trẻ. địch không thể ngờ ông là một chỉ huy nghĩa quân, nên chưa bị lộ. Ông đến học phó bảng Trần Xuân Sắc. Đầu năm 1890, khi ông 18 tuổi, ông nhận được tin cha là Nguyễn Quang Bích mất ở chiến khu. Ngô Quang Đoan phải bỏ học đi bộ lên núi Tôn Sơn, xã Mậu Xuân, châu Yên Lập, nay thuộc huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ chịu tang. Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đốc Đen, Lãnh Gáo biết tài chỉ huy quân sự của Ngô Quang Đoan ngỏ ý mời ông ở lại căn cứ tiếp tục sự nghiệp của cha lãnh đạo phong trào kháng chiến. Song ông cảm thấy mình còn ít tuổi, nên chỉ xin đứng vào đội ngũ kháng chiến. Ông dự nhiều trận đánh quân Pháp ở vùng sông Thao, sông Đà. Ông phát hiện ra một vấn đề nghiêm trọng là giữa các tướng Đề Kiều ở Khả Cứu, Đốc Ngữ, Lãnh Vân ở Hòa Bình, Đốc Đen, Lãnh Gáo ở Nam Định không phục nhau, không ai chịu nghe ai. Ngô Quang Đoan thấy nhiệm vụ cấp thiết là phải đoàn kết các tướng vào một mối. Ông đã lần lượt tới chiến đấu với các tướng chỉ huy các cánh quân để thuyết phục.

Quân Pháp cho mật vụ đi dò xét biết được trong nghĩa quân Đốc Ngữ - Đề Kiều có Ngô Quang Đoan là một thủ lĩnh đa mưu túc kế, lệnh cho quân đồn trú ở Hưng Hóa - Sơn Tây tìm mọi cách bắt hoặc giết được Ngô Quang Đoan. Nhưng tất cả các cuộc hành quân dù ào ạt hay chia thành toán nhỏ lén lút vào căn cứ đều bị nghĩa quân tiêu diệt. Giặc Pháp hèn hạ cho lính về làng Trình Phố bắt Lý trưởng và mẹ ông giam vào ngục, cướp hết thóc lúa, của cải, phá phách tài sản để lung lạc ông. Song tất cả những hành động dã man, điên cuồng ấy càng làm cho ông căm thù, quyết tâm tiêu diệt giặc Pháp.

Hoạt động của nghĩa quân Hưng Hóa do Đốc Ngữ, Đề Kiều, Ngô Quang Đoan chỉ huy đã gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp ở lưu vực sông Thao, sông Đà. Đốc Ngữ hy sinh ngày 25/11/1892, bị quân Pháp tấn công dữ dội Đề Kiều, Ngô Quang Đoan vượt sông Hồng sang Tam Đảo hợp tác với các thủ lĩnh nghĩa quân Tuấn Đạt, Tuấn Bôn, Đốc Khoát, sau đó Đề Kiều quay trở về căn cứ. Ông bị giặc Pháp bắt song không ra làm cho chúng mà mở đồn điền.

Ngô Quang Đoan vào Hà Tĩnh gặp thủ lĩnh Phan Đình Phùng bàn mưu kế sang Trung Quốc bắt liên lạc với Tôn Thất Thuyết, song việc không thành. ông lại cùng với một ông Tú tài tiếp tục cuộc kháng chiến ở Hưng Hóa. Vào đầu năm 1893, Ngô Quang Đoan và ông Tú bị giặc Pháp bắt ở Hưng Hóa. Sau một thời gian bị giam giữ, mua chuộc hai ông không được, giặc Pháp đem ông Tú ra chém để uy hiếp ông, nhưng ông vẫn kiên quyết không chịu đầu hàng. Quân Pháp quyết định đưa ông ra xử tử. Song ông được Đề Kiều đứng ra bảo lãnh giảm án tử hình, nhưng bị quản thúc. Trong thời gian bị quản thúc ở quê hương Trình Phố, Ngô Quang Đoan vẫn bí mật liên lạc với các chí sĩ yêu nước.

Năm 1905 Ngô Quang Đoan ra Hà Nội gặp cử nhân Lương Văn Can, bàn việc tổ chức Đông Kinh Nghĩa Thục. Sau đó Ngô Quang Đoan lại sang Nhật. Năm 1907, Hội Duy tân phân công Ngô Quang Đoan về nước vận động tài chính cho hội và liên lạc với các tướng lĩnh cũ ở vùng sông Thao, sông Đà để chống Pháp. Trong khi vận động tài chính, ông cũng có giúp đỡ phong trào Duy tân ở tỉnh Thái Bình. Năm 1909 hoạt động vận động tài chính của Ngô Quang Đoan đang có kết quả thì Chính phủ Nhật đã đồng lõa với nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương trục xuất Phan Bội Châu và các lưu học sinh Việt Nam ra khỏi Nhật. Ngô Quang Đoan trở về nước.

Ngô Quang Đoan qua đời ngày 29 tháng 5 năm Ất Dậu, tức ngày 8 tháng 7 năm 1945 tại làng Trình Phố chỉ trước khi Cách mạng tháng Tám thành công có 41 ngày.


Chân Tâm An

Đọc 1102 thời gian
Tin Mới Hơn

( 26/09/2015 ) Phần 24 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 25 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 26 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 27 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 28 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 29 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 30 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 31 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 32 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 26/09/2015 ) Phần 33 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 34 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 35 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 36 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 37 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 38 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »

( 25/09/2015 ) Phần 39 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam »


Tin Củ Hơn

( 25/09/2015 ) « Phần 41 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 42 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 43 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 44 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 45 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 46 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 47 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 48 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 49 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 50 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 51 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 52 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 53 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 54 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 25/09/2015 ) « Phần 55 - 284 Anh Hùng Hào Kiệt Của Việt Nam

( 23/08/2015 ) « Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top