Quản Trị Phong Thủy

Huyền Trân Công Chúa (1289 - 1340)

Huyền Trân công chúa (chữ Hán: 玄珍公主; 1289 - 1340), là một công chúa đời nhà Trần, là con gái của Trần Nhân Tông, em gái của Trần Anh Tông.


Năm 1306, Huyền Trân công chúa được gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân (tiếng Phạn: Jaya Sinhavarman III) để đổi lấy hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên - Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay). Một năm sau, Chế Mân chết, Huyền Trân công chúa được Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung cướp về, sau đó xuất gia. Câu chuyện về công chúa được truyền tụng trong dân gian, khiến công chúa trở thành một trong những công chúa nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam.


Tiểu sử

Điện thờ Huyền Trân Công Chúa tại Huế


Công chúa không rõ tên thật, theo dã sử được hạ sinh vào năm 1289, mẹ công chúa có thể là Khâm Từ hoàng hậu - con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tuy nhiên, cũng có khả năng bà là con gái của Tuyên Từ hoàng hậu, em gái của Khâm Từ hoàng hậu.

Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Thái thượng hoàng có hứa gả con gái cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là Vương hậu Tapasi, người Java (Indonesia ngày nay). Sau đó nhiều lần, Chế Mân cử sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng nhiều quan lại nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.

Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông khi đó mới đồng ý gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Công chúa khi về Chiêm Thành, được phong làm Vương hậu thứ 2 với phong hiệu là Paramecvari . Một năm sau đó, vào tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân chết.

Thế tử Chiêm Thành là Chế Chi sai sứ sang Đại Việt báo tang. Trần Anh Tông khi đó nghe rằng theo tục nước Chiêm, Quốc vương chết thì Vương hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Trần Anh Tông liền cử Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu công chúa. Trần Khắc Chung thành công, cứu được công chúa và đưa xuống thuyền, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm và theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.

Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), công chúa về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thái Thượng hoàng, công chúa xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng (香幢) .

Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã quy y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.

Bà mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340). Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là Thần Mẫu và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày công chúa mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.

Các triều đại sau đều sắc phong công chúa Huyền Trân là thần hộ quốc. Nhà Nguyễn ban chiếu ghi nhận công lao của công chúa Huyền Trân "trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng", nâng bậc tăng là "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần" .


Nhận định
Tuy nhiên, một số người đời sau cho rằng câu chuyện này có phần thêu dệt, chuyện nêu lý do công chúa phải lên giàn hỏa chỉ là cớ do sách Việt sau này viết thêm. Theo tiến sĩ Po Dharma, công chúa Huyền Trân không thể hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa thiêu vì nếu theo truyền thống Champa xưa, đây là một vinh dự và chỉ có hoàng hậu chính thức mới được phép hoả thiêu trên giàn hỏa thiêu với chồng của mình. Trong kinh điển theo đạo Bà La Môn đều không nhắc đến tục lệ này của người Champa, chưa chắc đã có tục lệ như thế. Cho dù có tục lệ đó đi nữa, thì việc hỏa táng phải tổ chức trong vòng 7 ngày sau khi chết, vì khí hậu nhiệt đới không cho phép bảo quản thi hài được lâu hơn, đến khi tin đưa về Đại Việt và dù Trần Khắc Chung có lên tàu sang ngay cũng không thể nào kịp, trong điều kiện giao thông thời đó. Chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân có thể là vì bị gièm pha, đồn thổi vì sự chênh lệch tuổi tác quá lớn và Trần Khắc Chung được tiếng đạo đức, trên tàu còn rất nhiều người khác cùng đi, như là An Phủ Sứ Đặng Vân (Đặng Thiệu), không dễ dàng hành động.

Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư chê trách chuyện này:
Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Nguyên Đế thì vì Hô Hàn sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy nàng Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu 
Theo Phạm Văn Sơn trong Việt sử toàn thư:
Duy việc Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù muốn sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.
Còn người Việt đã thắng một canh bạc không lương thiện lắm lại còn ra bộ não nùng xót xa … .
Trích lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu tại điện thờ Huyền Trân Công Chúa, Huế:
Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ.


Trong thơ ca nghệ thuật

Bia ký tại Điện thờ Huyền Trân Công Chúa, Huế


Câu chuyện về Huyền Trân đã trở thành một đề tài trong thi ca, nghệ thuật.

Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chăm là dân tộc thấp kém nên đã có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo
Tương truyền là bài "Nước non ngàn dặm" theo điệu Nam Bình, có người cho rằng chính công chúa đã soạn ra trong lúc đi đường sang Chiêm:

Nước non ngàn dặm ra đi...
Mối tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Lý.
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì.
Số lao đao hay là nợ duyên gì?...
Nhạc sĩ Phạm Duy cũng dùng những chữ đầu trong bài này để viết thành ca khúc "Nước non ngàn dặm ra đi", nói về tâm sự của Huyền Trân công chúa khi sang Chiêm Quốc:

Nước non ngàn dặm ra đi...
Dù đường thiên lý xa vời
Dù tình cố lý chơi vơi
Cũng không dài bằng lòng thương mến người...
Một số tác phẩm có nói đến Huyền Trân như


Âm nhạc
Trường ca Con đường Cái Quan của Phạm Duy
Năm tê trong lúc sang Xuân
Tôi theo Công chúa Huyền Trân tôi lên đường
Đường máu xương đã lắm oán thương
Đổi sắc hương lấy cõi giang san
Tôi đi theo bước ái tình
Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no
Đèo núi cao nghe gió vi vu
Thổi phấn son bay tới kinh đô....
Tiễn biệt Huyền Trân của Phạm Duy phổ thơ Đào Tiến Luyện
Nước non ngàn dặm ra đi của Phạm Duy
Huyền Trân Công chúa của nhạc sĩ Nguyễn Hiền
Nhớ của nhạc sĩ Châu Kỳ
Tình sử Huyền Trân của Nam Lộc
Sương gió Chiêm Thanh - cổ nhạc
Thơ
Công chúa Huyền Trân của Hoàng Cao Khải (?)
Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi... !
Tiễn biệt Huyền Trân của Đào Tiến Luyện


Tiểu thuyết lịch sử
Bộ "Bão táp triều Trần" của Hoàng Quốc Hải gồm 4 tập: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân Công chúa, Vương triều sụp đổ, được xuất bản lần đầu cả bộ năm 2003. Dịch giả Chapuis Gérard đã hoàn thành bản dịch Huyền Trân Công Chúa/Requiem pour une Princesse sang tiếng Pháp cuối năm 2009 và dự kiến phát hành năm 2012.


Chân Tâm An

Theo Wikipedia.org

Đọc 260 thời gian
Tin Mới Hơn

( 11/02/2017 ) Nguyễn Nhạc (1753-1793) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Huệ (1753-1792) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Hoàng (28/8/1525 - 20/7/1613) »

( 11/02/2017 ) Trịnh Kiểm (1503-1570) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Thị Duệ (14/3/1574 - 08/11/1654) »

( 11/02/2017 ) Mạc Thái Tổ (23/11/1483 - 22/8/1541) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Xí (1396 - 1465) »

( 11/02/2017 ) Đinh Lễ ( -1427); Đinh Liệt ( - 1471) »

( 11/02/2017 ) Trần Nguyên Hãn (1390-1429) »

( 11/02/2017 ) Nguyễn Trãi (1380-1442) »

( 11/02/2017 ) Lê Lai (- ..29/4/1418) »

( 11/02/2017 ) Lê Thái Tổ - Lê Lợi( 10/9/1385 - 5/9/1433) »

( 10/02/2017 ) Đặng Tất (1357-1409) Đặng Dung (1373-1414) »

( 10/02/2017 ) Hồ Quý Ly (1336-1407) »

( 10/02/2017 ) Chu Văn An (1292-1370) »


Tin Củ Hơn

( 10/02/2017 ) « Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370); Bùi Mộc Đạt, Trần Thi Kiến (1260-1330)

( 10/02/2017 ) « Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346)

( 10/02/2017 ) « Trương Hán Siêu (... - 1354)

( 10/02/2017 ) « Trần Quốc Tảng (1252-1313)

( 10/02/2017 ) « Trần Nhật Duật (1255-1330)

( 10/02/2017 ) « Phạm Ngũ Lão (1255-1320)

( 10/02/2017 ) « Trần Anh Tông (25/10/1276 - 21/4/1320)

( 10/02/2017 ) « Trần Quang Khải (10/1241 - 26/7/1294)

( 10/02/2017 ) « Trần Nhân Tông(7/12/1258 - 16/12/1308)

( 10/02/2017 ) « Trần Hưng Đạo (... - 1300)

( 10/02/2017 ) « Trần Thủ Độ (1194-1264)

( 10/02/2017 ) « Nguyên Phi Ỷ Lan ( -...1117)

( 10/02/2017 ) « Lý Thường Kiệt (1019-1105)

( 10/02/2017 ) « Tô Hiến Thành - Vì nước tiến cử người Tài, không vì ơn riêng

( 10/02/2017 ) « Lý Thánh Tông (1054-1072)

( 10/02/2017 ) « Lý Chiêu Hoàng (1224-1225)