• Tôn thờ trí tuệ là tín ngưỡng đời con
    Tôn thờ trí tuệ là tín ngưỡng đời con
    Người Do Thái không chỉ coi trọng trí tuệ, mà còn không ngừng tìm ra những phương pháp tăng cường trí tuệ. Ví dụ, họ dạy con cái phải biết quý trọng sách vở, chăm chỉ đọc sách để nâng cao hiểu biết.
  • Văn hóa Nhật Bản: Thời Minh Trị Thiên Hoàng
    Văn hóa Nhật Bản: Thời Minh Trị Thiên Hoàng
    Không một ai có thể phủ nhận được sự phát triển thần kỳ của Nhật bản về mọi lãnh vực với thời gian khoảng 30 năm, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Sự thay đổi này đã biến một nước…
  • Câu chuyện về "tủ sách" và "tủ rượu"
    Câu chuyện về "tủ sách" và "tủ rượu"
    Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. Ông vừa cất xong ngôi nhà (biệt thự thì đúng hơn) và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi…

Quan họ Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Nhưng Bắc Ninh lại là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ. Bắc Ninh cũng được biết đến là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với nhiều loại hình nghệ thuật và các lễ hội dân gian đặc sắc.

 


Khái quát chung


Diện tích: 822,7 km2
Dân số: 1.079.900 người
Bắc Ninh được hình thành từ hàng nghìn năm trước, gắn liền với nền văn minh sông Hồng. Thành cổ Luy Lâu tại Bắc Ninh từng là trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo. Đây cũng là trung tâm chính trị cổ nhất của Việt Nam.
Trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay có 27 dân tộc cùng sinh sống trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam. Trong đó người Kinh chiếm đa số, sau đó là người Tày và người Nùng. Số còn lại là 24 dân tộc khác.


Tài nguyên văn hóa và du lịch


Di sản văn hóa


Bắc Ninh có một nền văn hóa rất đặc sắc bởi mảnh đất này có lịch sử văn hiến lâu đời với nhiều lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống, di tích lịch sử. Những dấu ấn lịch sử văn hóa sống động được kế thừa từ bao đời đó đã được kết tinh và ngày nay vẫn hiện diện trong các lễ hội, di sản văn hóa của tỉnh…
Bắc Ninh là địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm cỡ, qui mô. Văn miếu Bắc Ninh nổi tiếng với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 trên tổng số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh. Văn miếu Bắc Ninh với những trang lịch sử văn hóa, giáo dục còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những minh chứng vô cùng giá trị cho nên văn minh Kinh Bắc..

Chùa Dâu, Đền Đô, Thành cổ Luy Lâu...những di tích nổi tiếng tại Bắc Ninh


Những di tích nổi tiếng ở Bắc Ninh có thể kể đến như Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những ngôi chùa phát tích của Phật giáo Việt Nam.
Đền Đô, đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình Tam Tảo cũng là những di tích quan trọng của Bắc Ninh.
Tính đến nay, Bắc Ninh có 1.259 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 495 di tích được Nhà nước công nhận và xếp hạng. Có 194 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 301 di tích xếp hạng cấp tỉnh.


Làng nghề truyền thống


Không chỉ là tỉnh có nhiều di tích, Bắc Ninh còn là một trong số những tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng tại miền Bắc. Trong số đó có không ít làng nghề truyền thống đã có tuổi đời hàng trăm năm. Tính trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 62 làng nghề, chủ yếu sản xuất các mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ, giấy, gốm, đúc đồng…


Lễ hội


Hàng năm trên toàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau được tổ chức. Một số lễ hội được biết đến khắp cả nước thu hút hàng triệu lượt khách như: Hội Lim, Hội Đền Đô, Hội Phù Đổng.
Hội Lim được tổ chức từ 13 đến 15 tháng Giêng, âm lịch. Hội Đền Đô được tổ chức vào ngày 15 tháng 3 âm lịch để kỷ niệm ngày đăng quan của vua Lý Thái Tổ và các vị vua nhà Lý. Hội Phù Đổng tổ chức vào ngày 9 tháng 4 để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
Ngoài ra còn nhiều lễ hội khác cũng được biết đến rộng rãi như: Lễ hội làng Tam Tảo được tổ chức ngày 10 tháng 2; Lễ Hội làng Kim Chân ngày 26-28 tháng 2; Lễ hội Thập Đình; Lễ hội Cao Lỗ Vương; Lễ hội Đồng Kỵ; Lễ hội Chùa Dâu….


Nghệ thuật biểu diễn


Nói đến Bắc Ninh là nói đến làn điệu quan họ mượt mà, thắm thiết, say đắm lòng người. Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng quan họ gốc xứ Kinh Bắc xưa kia gồm Bắc Ninh và Bắc Giang. Tháng 9 năm 2009, Quan họ Bắc Ninh đã đem lại niềm tự hào cho Việt Nam khi được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể địa diện của nhân loại.

Quan họ Bắc Ninh được Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại...


Tiềm năng du lịch


Bắc Ninh hiện có hàng trăm di tích lịch sử văn hóa cũng như các lễ hội và làng nghề truyền thống. Có thể nói mảnh đất này là quê hương của đình, chùa và lễ hội. Hiếm có vùng đất nào có bề dày lịch sử và văn hóa lớn như Bắc Ninh, đấy chính là tiềm năng phát triển du lịch cũng như kinh tế xã hội mà không phải địa phương nào cũng có được.
Hiện Bắc Ninh có 3 khu du lịch chính là Khu du lịch văn hóa Quan họ Cổ Mễ; Khu du lịch văn hóa Đền Đầm; Khu du lịch văn hóa Phật Tích..Bên cạnh đó theo dự kiến sẽ có thêm 03 khu du lịch sẽ được xây dựng là Khu du lịch Lâm viên Thiên Thai, Khu du lịch văn hóa lịch sử Như Nguyệt, Khu du lịch tâm linh Hàm Long – Núi Dạm…Ngoài ra sẽ có 22 điểm di tích quy hoạch phát triển thành điểm du lịch trên địa bàn trong đó có một số di tích tiêu biểu như: Văn Miếu Bắc Ninh, chùa Phật tích, chùa Dâu, Chùa Bút Tháp… 


Ẩm thực - Bánh phu thê


Chẳng biết từ bao giờ, trong các đám cưới, đám hỏi của người Việt đặc biệt là người Kinh Bắc lại không thể thiếu một loại bánh. Loại bánh tượng trưng cho sự thủy chung – Bánh Phu Thê.
Bánh phu thê còn được gọi với nhiều tên như bánh xu xê, bánh xu xuê là một loại bánh ngọt cổ truyền của người Việt. Nhiều ý kiến cho rằng, làng Đình Bảng dười triều nhà Lý là nơi đầu tiên làm ra loại bánh này. Ngày nay nếu có dịp đến thăm Đền Đô, phường Đình Bảng, Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, du khách sẽ nhận thấy vùng quê này vẫn đang lưu truyền nghề làm bánh từ hàng trăm năm nay.
Mặc dù có rất nhiều truyền thuyết xung quanh việc ra đời bánh Phu Thê như: khi vua Lý Anh Tông xuất chinh, hoàng hậu chính tay vào bếp làm ra món bánh gửi theo chồng đi đánh trận. Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là phu thê. Nhưng lại có người kể rằng: trong một lần hội làng ở Đình Bảng, Lý Thánh Tông cùng vợ là Nguyên phi Ỷ Lan về quê lễ ở Đền Đô đã được dân làng dâng bánh xu xuê. Sau khi thưởng thức, Đức vua và Nguyên Phi đều phải khen ngon. Người cho rằng nếu được ăn bánh thì gia đình sẽ hạnh phúc hơn…Song dù là truyền thuyết nào thì cũng đều chung một quan điểm để nói lên rằng bánh phu thê tượng trưng cho sự thủy chung, cho tình nghĩa vợ chồng..Có lẽ bởi vậy mà tục lệ trong đám hỏi phải có bánh Phu Thê đã trở thành truyền thống đối với người Việt Nam đặc biệt là người dân Kinh Bắc.
Nổi tiếng là nơi tạo nên loại bánh này và cách làm bánh truyền thống vẫn được tiếp nối truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, do đó làng Đình Bảng vẫn luôn luôn là lựa chọn số một cho những người có nhu cầu mua bánh Phu Thê.

Bánh Phu Thê còn được gọi tên chệch đi là xu xuê và được làm với nhiều màu sắc, hình dạng khác nhau nhưng bánh truyền thống là bánh có hình vuông được gói trong hai loại lá..Từ lâu đấy đã trở thành loại bánh không thể thiếu trong đám hỏi của người Việt đặc biệt là người dân Kinh Bắc
Cũng giống như nhiều loại bánh truyền thống khác của Việt Nam, bánh Phu Thê không cầu kỳ về hình thức nhưng đừng vì nhìn vẻ ngoài đơn giản mà nghĩ rằng cách làm bánh cũng đơn giản. Để có được một chiếc bánh hoàn hảo, thơm ngon phải trải qua nhiều công đoạn chuẩn bị, thực hiện kỹ lưỡng cũng như áp dụng các phương pháp bí truyền.
Đầu tiên muốn có bánh ngon phải chọn loại gạo nếp cái hoa vàng thơm ngon. Tiếp đó đem vô gạo thật sạch, để ráo nước và dùng cối giã chứ không được xay bằng máy. Sau đó, lọc lấy tinh bột gạo. Một cân gạo nếp cái hoa vàng thường chỉ lấy được 4 lạng tinh bột. Bột lọc đó lại đem xay cho thật nhuyễn rồi phơi hoặc sấy khô để qua 15 ngày mới đem ra làm bánh, nếu làm ngay thì bánh sẽ nát.
Chuẩn bị phần nguyên liệu làm bột bánh xong thì đến chuẩn bị nguyên liệu làm nhân bánh. Nhân bánh là đỗ xanh được ngâm kỹ đãi sạch vỏ, đem hấp chín, nghiền mịn, thắng với đường và trộn lẫn vài sợi dừa đã được nạo nhỏ. Khi ăn, bánh thường được cắt làm bốn nên trong nhân bánh 4 hạt sen được đặt ở 4 góc.

Nước để từ lá hoa dành dành để tạo màu cho bánh. Những chiếc bánh trước khi được luộc chín có màu xanh mướt, sau khi luộc bóc ra có màu vàng óng, hương vị đậm đà thơm ngon
Khi bóc chiếc bánh ra ta sẽ thấy bánh có màu vàng ươm trong suốt nhìn rõ những sợi đu đủ nạo nhỏ rắc lẫn bên trong trông thật hấp dẫn. Màu vàng của vỏ bánh được tạo thành từ hoa dành dành. Người làm bánh đem hoa dành dành phơi khô, khi nào làm bánh thì ngâm vào nước sôi để chiết xuất nước có màu vàng, lấy nước này trộn vào bột để tạo màu bánh. Theo truyền thống bánh được gói bằng hai thứ lá. Bên trong là lớp lá chuối chống dính, ngoài cùng lá lớp lá dừa, tuy trên tráp ăn hỏi có thể bánh được đặt trong hộp giấy màu đỏ. Luộc bánh tốt nhất là luộc bằng bếp củi đun vừa lửa.
Bánh Phu Thê có hình vuông và tròn biểu trưng của triết lý âm dương ở phương Đông. Bột bánh được dàn mỏng, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê. Triết lý Á Đông cũng được thể hiện một cách tinh tế qua các màu của bánh. Lá gói xanh tượng trưng cho sự chung thủy, lạt buộc hồng mô phỏng sợi tơ hồng kết nối, bánh màu vàng thể hiện tình yêu thương của vợ đối với chồng.
Với ý nghĩa sâu sắc và hương vị thơm ngon đặc biệt, bánh Phu Thê trở thành một phần không thể thiếu trong mỗi đám hỏi của người Việt. Đồng thời là món vặt hấp hẫn và cũng là một thứ quà ngon để làm quà cho những người đi xa. 



Nguồn: sưu tầm

Đọc 131 thời gian

Tin Tức

Xã hội

Giáo dục

Sức khỏe

Go to top